Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 11



Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà gửi tới phụ huynh cũng như  các thầy cô giáo cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ
Cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ sẽ chỉ cho bạn cách để làm giảm bớt cho con bạn khỏi những gánh nặng về dinh dưỡng. Bạn sẽ thấy rằng mỗi vấn đề dinh dưỡng của con bạn sẽ được xử lý và giải quyết, sức khỏe và hành vi của trẻ sẽ cải thiện.
Nguồn:
Người dịch: Cảm ơn CLB Gia đình trẻ Tự kỷ Hà Nội đã dịch và chia sẻ cuốn sách này tới cộng đồng
Tổ chức đã post cuốn sách này: sachtuky.com
——————————–

Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 11: Chương 1: Kế hoạch – Bước 10

Tìm hiểu thêm các chất bổ sung khác

Người ta tin rằng có nhiều loại vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa, axit amin, dưỡng dược, và các loại thảo mộc khác có lợi cho trẻ tự kỷ. Những chất bổ sung này được chấp nhận và thường được sử dụng như là điều trị dinh dưỡng nâng cao trong cộng đồng tự kỷ.

Trước khi bắt đầu, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu rằng mỗi chất bổ sung dinh dưỡng nâng cao phục vụ một mục đích rất cụ thể, và không phải tất cả trẻ tự kỷ đều cần. Một số trẻ tự kỷ sử dụng hầu hết các chất bổ sung, một số trẻ khác chỉ sử dụng một số ít loại chất bổ sung, và vẫn còn những trẻ khác không dùng bất kỳ chất bổ sung nâng cao nào bởi vì chúng không thích hợp với dạng rối loạn riêng của trẻ. Ngoài ra, trái với những gì các chuyên gia y tế nói với các bậc cha mẹ, bạn không nên bắt đầu cho con của bạn điều trị tất cả các chất bổ sung ngay lập tức, và cũng không phải tất cả chất bổ sung đều nên được sử dụng cùng một lúc. Nhiều bậc cha mẹ đã mua hàng chục loại chất bổ sung đắt tiền và cố gắng bắt con em mình dùng tất cả các chất bổ sung này hàng ngày, trong khi chúng không có tác dụng. Làm như vậy sẽ chỉ làm cho bạn cảm thấy thất vọng, bị quá tải, và hoàn toàn vỡ mộng với tất cả các can thiệp dinh dưỡng. Điều trị chứng tự kỷ cũng giống như chạy marathon, bạn cần phải bắt đầu từ từ và tiến hành có chừng mực. Làm việc với chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ dinh dưỡng của con bạn để tìm ra các chất bổ sung nâng cao, nếu có, có thể thích hợp cho con của bạn. Cuối cùng, thậm chí đừng cố thực hiện bước này cho đến khi con bạn đã làm chủ được chín bước đầu tiên trong chương trình của tôi. Dinh dưỡng cơ bản của trẻ phải được đặt ra trước khi bạn nghiên cứu kỹ hơn các can thiệp nâng cao.

BỔ SUNG NÂNG CAO

Vì có rất nhiều loại chất bổ sung nâng cao để xem xét, dễ nhất là nhóm chúng lại với nhau theo các mục đích của chúng. Một số chất bổ sung được sử dụng để tăng cường hệ thống giải độc hoặc hệ thống miễn dịch, một số khác để tăng cường chức năng nhận thức, và một số khác nữa để cải thiện các triệu chứng hành vi hoặc triệu chứng tự kỷ. Bạn phải nhanh chóng xem xét những nhóm chất bổ sung nào có thể thích hợp để điều trị các triệu chứng riêng của con bạn. Xin lưu ý rằng việc chia nhóm này không bao gồm tất cả nhưng là một hướng dẫn chung để giúp bạn bắt đầu thảo luận với chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của con bạn. Một số ít các chất bổ sung này vẫn còn gây tranh cãi và không được một số chuyên gia y tế khuyến khích. Bạn cần làm việc với người sẵn sàng có các cuộc thảo luận mở về tất cả các chất bổ sung để bạn có thể quyết định với đầy đủ thông tin về việc sử dụng các chất bổ sung cho con mình.

Các chất bổ sung tăng cường chức năng nhận thức

Các chất bổ sung sau được sử dụng vì khả năng của chúng giúp tăng cường khả năng lĩnh hội, khả năng lý luận, khả năng ra quyết định, khả năng lập kế hoạch, và khả năng học tập của trẻ:

  • carnitine • sắt

  • choline • kẽm

  • coenzyme Q10 (CoQ10)

Carnitine

Carnitine là một thuật ngữ chung cho các hợp chất L-carnitine, acetyl-L-carnitine, và propionyl-L-carnitine. Carnitine được tổng hợp trong cơ thể từ các axit amin thiết yếu lysine và methionine. Carnitine đóng vai trò quan trọng trong sản sinh năng lượng, vận chuyển các axit béo chuỗi dài vào trong ty thể để chúng có thể được đốt cháy để sinh ra năng lượng. Carnitine sau đó vận chuyển chất thải ra khỏi tế bào để ngăn ngừa tích tụ chất thải. Carnitine cũng có thể có khả năng bảo vệ bộ não và hệ thần kinh trung ương, có hoạt động bảo vệ tim, có hiệu ứng hạ thấp triglyceride, và có các đặc tính chống oxy hóa. Một nghiên cứu đã cho thấy 50 phần trăm các bé trai mắc chứng rối loạn thiếu chú ý ADD có một phản ứng tích cực với chất bổ sung L- carnitine.

Sự thiếu hụt carnitine có thể làm cho con bạn bị suy yếu cơ, giảm đường huyết, và làm tăng nồng độ ammoniac trong máu. Sự thiếu hụt carnitine có thể do axit valproic gây ra, đây là một loại thuốc dùng để điều trị động kinh, cũng như một số loại kháng sinh. Cũng còn có một rối loạn di truyền được gọi là thiếu hụt carnitine căn bản, nó được biểu hiện khi trẻ 5 tuổi, khi những chất vận chuyển carnitine của trẻ vận chuyển không hoạt động đúng cách. Tôi khuyên bạn nên hỏi bác sĩ của con bạn để yêu cầu xét nghiệm carnitine trong máu để xác định xem trẻ có thiếu hụt carnitine và có cần bổ sung không. Sau đây là những loại thực phẩm giàu carnitine: thịt (thịt càng đỏ thì càng chứa sữa nhiều carnitine hơn) các sản phẩm sữa

cá (trong thành phần nước serum sữa)

thịt gia cầm

Để xác định xem con bạn có thể hưởng lợi từ chất bổ sung carnitine không, bạn nên làm một phản ứng thử nghiệm dưới sự giám sát của bác sĩ của trẻ. (Xem trang 239 trong Bước 9 để xem lại cách thực hiện một phản ứng thử nghiệm Bạn sẽ thấy các biểu mẫu phản ứng thử nghiệm tại Phụ lục 5 để bạn có thể sử dụng ghi chép các triệu chứng của con bạn và phản ứng với camitine.) Hãy luôn để ý xem có triệu chứng nào của việc sử dụng quá liều carnitine, chẳng hạn như buồn nôn, nôn mửa, co cứng bụng, và tiêu chảy. Carnitine có thể mua theo đơn thuốc theo thương hiệu Carnitor và levocarnitine thông thường và không cần đơn thuốc dưới dạng L- carnitine và acetyl-L-carnitine. Hiện tại không có RDA cho carnitine. Đối với liều khuyến nghị cho carnitine không cần đơn thuốc, hãy tham khảo các PDR về các chất bổ sung dinh dưỡng.

Choline

là những loại thực phẩm giàu choline:

nội tạng động vật

thịt lợn

quả hạch

lòng đỏ trứng

các loại đậu

thịt bò

thịt gia cầm

bơ lạc

bột protein đậu nành

súp lơ

bắp cải Brussels

Choline là một chất dinh dưỡng hòa tan trong nước mà cơ thể cần để tạo ra một số phức chất quan trọng cần thiết cho màng tế bào khỏe mạnh. Choline là một thành phần của phosphatidylcholine (lecithin) và chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine, là một trong những hóa chất quan trọng trong não liên quan đến bộ nhớ. Choline cũng là một tiền chất của chất cho methyl, là trimethylglycine methyl (TMG). Một vài báo cáo cho biết choline có thể cải thiện kỹ năng nhớ ngắn hạn và tăng cường trí nhớ cho người học kém. Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia khuyến cáo phụ nữ mang thai và đang cho con bú tăng lượng choline ăn vào của họ để giúp não của thai nhi phát triển bình thường. Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ (AAP) khuyến cáo rằng sữa cho em bé có chứa choline. Hiện tại không có RDA cho choline, nhưng Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng của Viện Y học của Học viện Khoa học Quốc gia đã xác lập Lượng tiêu thụ đầy đủ, được liệt kê trong Phụ lục 3. Sau đây

Người ta báo cáo rằng quá nhiều choline bổ sung gây buồn nôn, tiêu chảy, và phân lỏng. Cholin bổ sung có nhiều dạng khác nhau, và tôi khuyên bạn nên tránh xa choline ở dạng choline bitartrate. Có dấu hiệu cho thấy nó có thể làm tăng các triệu chứng trầm cảm.

Coenzyme Q10

Coenzyme Q10 là một chất tan trong chất béo thuộc về họ các chất được gọi là ubiquinones. CoQ10 có tính chống oxy hóa bảo vệ hệ thần kinh trung ương và não khỏi các bệnh thoái hóa thần kinh. Vì CoQ10 được công nhận là chất chống oxy hóa quan trọng như vậy cho não, nên nó thường được thêm vào chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất hàng ngày. Bạn hãy kiểm tra các chất bổ sung hàng ngày của con bạn để xem nếu trẻ đã có CoQ10. Nếu vậy, bổ sung thêm là không cần thiết. Nếu bạn quyết định thử cho con bạn dùng chất bổ sung CoQ10, hãy thảo luận về liều lượng với bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng của trẻ, vì không có RDA cho CoQ10. Đối với132 liều dùng đề nghị, tôi tham khảo các PDR cho các chất bổ sung dinh dưỡng. Dư thừa CoQ10 có thể gây ra cho con bạn những triệu chứng tiêu hóa nhẹ như buồn nôn, tiêu chảy, và khó tiêu. Sau đây là những loại thực phẩm giàu CoQ10:

thịt cá các loại hạt

thịt gia cầm dầu đậu tương dầu hạt cải

Sắt

Sắt là một khoáng chất cần thiết với lượng rất nhỏ, nó quan trọng cho chức năng não của trẻ. Nó vận chuyển oxy đến các tế bào khắp cơ thể, giúp sản xuất carnitine, và liên quan tới việc sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh dopamine, serotonin, và norepinephrine. Sắt cũng quan trọng đối với chức năng miễn dịch của trẻ, tăng sức đề kháng với bệnh tật và nhiễm trùng. Nếu con của bạn bị thiếu hụt sắt, nó có thể ngăn chặn các tế bào não của trẻ nhận được lượng oxy thích hợp, điều này có thể gây tổn thương chức năng tâm thần, thờ ơ, quãng chú ý ngắn, dễ cáu kỉnh, giảm khả năng học, và ảnh hưởng đến thời gian học ở trường. Trẻ cũng có thể dễ bị mắc các bệnh do Candida, vi rút và các mầm bệnh khác. Có một số xét nghiệm máu thông thường, chẳng hạn như xét nghiệm ferritin trong huyết thanh, xét nghiệm tổng khả năng liên kết của sắt, xét nghiệm hemoglobin và hematocrit, các xét nghiệm này có thể xác định xem con bạn có bị thiếu máu thiếu sắt ngay cả khi chỉ bị nhẹ. Nghiên cứu cho thấy khi trẻ em bị thiếu máu thiếu sắt dùng một chất bổ sung sắt, kỹ năng nhận thức của trẻ cải thiện và các vấn đề về học tập của trẻ giảm đi.

Vì sắt rất quan trọng đối với sức khỏe của con bạn, nên nó phải có trong chế độ ăn hàng ngày của trẻ thông qua thức ăn hoặc chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất. Sau đây là những loại thực phẩm giàu sắt:

nội tạng động vật

các loại đậu

đậu phụ

thịt đỏ

đậu nành

rau bina

đậu lăng

đậu Hà lan

thịt gia cầm

mật đường đen

nho khô

Nếu con bạn không bị thiếu hụt sắt và đã ăn 100 phần trăm RDA của trẻ đối với sắt, tôi không đề nghị bổ sung thêm sắt cho trẻ. Nếu quá nhiều sắt tích tụ trong cơ thể, nó có thể dẫn tới sự hình thành các gốc có hại tự do gây hại cho tế bào và góp phần vào bệnh ung thư. Nếu xét nghiệm cho thấy con của bạn không bị thiếu hụt sắt và yêu cầu bổ sung sắt vượt quá RDA của trẻ, thì bác sĩ nên quy định rõ.

Dùng sắt quá nhiều cùng một lúc là độc hại và có thể có hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như:

nôn

suy thận

thờ ơ

tiêu chảy

sốc

hạ đường huyết

133

trầm cảm của hệ thần hôn mê tổn thương gan kinh trung ương

Việc để chất bổ sung sắt ở trong chai trẻ em khó mở và để xa trẻ em là cực kỳ quan trọng. Bạn có thể tìm RDA và Lượng tối đa có thể dung nạp được (UL) của con bạn đối với sắt trong Phụ lục 3.

Kẽm

Kẽm là một khoáng chất cần thiết tham gia vào các hoạt động của hơn một trăm enzyme trong cơ thể. Có lẽ quan trọng nhất, kẽm cần thiết cho sự phát triển và hoạt hóa các tế bào lym-phô T, đó là những tế bào máu trắng chống nhiễm trùng. Cũng giống như sắt, kẽm quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, kẽm nên được đưa vào trong chế độ ăn hàng ngày của trẻ thông qua thức ăn hoặc chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất. Thiếu hụt kẽm có thể dẫn đến rối loạn chức năng miễn dịch, chậm phát triển, chán ăn, tiêu chảy, và đầu óc thờ ơ. Ngay cả thiếu hụt kẽm ở mức trung bình cũng ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống miễn dịch của trẻ. (Quá nhiều kẽm cũng sẽ làm giảm chức năng miễn dịch của con bạn.) Sau đây là danh sách các loại thực phẩm giàu kẽm:

sò và một số loại hải sản các loại đậu thịt gia cầm

ngũ cốc ăn sáng tăng cường các loại hạt các sản phẩm sữa

thịt đỏ ngũ cốc

Bạn có thể thấy RDA và UL của trẻ đối với kẽm tại Phụ lục 3.

CÁC BỔ SUNG TĂNG CƯỜNG HỆ MIỄN DỊCH

  • Dimethylglycine (DMG) • Vitamin D

  • Sắt • Vitamin E

  • Magiê •Kẽm

  • Selen

  • Vitamin A

  • Vitamin C

Bây giờ bạn biết rằng nhiều chuyên gia y tế trong cộng đồng tự kỷ tin rằng trẻ mắc chứng tự kỷ dễ bị rối loạn chức năng hệ thống miễn dịch hơn so với các trẻ khác. Các bác sĩ điều trị bệnh tự kỷ có sử dụng các can thiệp thay thế và chất bổ sung thường khuyên bạn các điều trị gây tranh cãi như immunoglobulin truyền tĩnh mạch (IVIG), immunoglobulin dạng uống (OIG), các nhân tố vận chuyển, và các loại thuốc kháng virus, kháng nấm, và kháng khuẩn. Nhiều bậc cha mẹ muốn sử dụng 134

an toàn bằng cách chỉ sử dụng vitamin, khoáng chất và chất dinh dưỡng để tăng cường hệ thống miễn dịch của con mình một cách tự nhiên. Chuyên gia dinh dưỡng của con bạn có thể giúp bạn đảm bảo trẻ ăn được đủ sắt, magiê, kẽm, sê-len, và các vitamin A, C, D, và E thông qua thực phẩm và / hoặc chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất hàng ngày. Con của bạn nên được dùng ít nhất là RDA nhưng không được vượt quá UL của trẻ.

Dimethylglycine (DMG)

Dimethylglycine là một chất hòa tan trong nước có tự nhiên trong tế bào động vật và thực vật. Nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng DMG có thể hỗ trợ hệ miễn dịch. Một số loại thực phẩm giàu dimethlyglycine là đậu, hạt ngũ cốc, và gan. PDR cho các chất bổ sung dinh dưỡng đề nghị liều lượng thông thường là 125 mg / ngày. DMG không độc hại, và không gây phản ứng phụ.

Trong cộng đồng tự kỷ, nhiều người đã phản ánh rằng DMG có thể cải thiện hành vi, cải thiện giao tiếp bằng mắt, và cải thiện ngôn ngữ biểu cảm của trẻ mắc chứng tự kỷ. Thật không may, ba nghiên cứu nhỏ được tiến hành với DMG và chứng tự kỷ đã không hỗ trợ luận điểm này. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ tiếp tục thử dùng DMG cho trẻ tự kỷ của họ, và nó vẫn là một trong những chất bổ sung phổ biến nhất. Nếu bạn quan tâm tới việc thử dùng DMG để nâng cao ngôn ngữ biểu cảm của con bạn, bạn có thể kiểm tra trang web của Viện Nghiên cứu Tự kỷ về các liều lượng đề xuất cho con của bạn. Tôi khuyến khích bạn nói chuyện trước tiên với chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của trẻ trước khi bắt đầu phản ứng thử nghiệm để xác định xem liệu con bạn có phải là người phản ứng tích cực với DMG.

Câu chuyện của David

Bé David năm tuổi được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ. Bé có thể giao tiếp một chút bằng mắt, lặp lại các từ thay vì nói bình thường, xếp đồ chơi, có nhiều cơn giận dữ và các vấn đề hành vi, dễ dàng thất vọng, và khó ru ngủ và khó ngủ yên vào ban đêm. Mẹ của David cho biết bé chậm phát triển từ khi mới sinh. Bé bị nhiễm trùng tai thường xuyên, từ khi là trẻ sơ sinh đã được điều trị nhiều lần bằng thuốc kháng sinh. Bé đi tiêu phân lỏng, có nhiều bọt, và chưa bao giờ đi tiêu phân thành hình bình thường. Bé cũng thường mắc các bệnh như cảm lạnh, viêm phế quản, và viêm phổi. David từ chối ăn mọi loại trái cây hay rau quả và chỉ ăn rất hạn chế các loại thực phẩm. Xét nghiệm dị ứng IgE RAST chỉ ra rằng bé bị dị ứng với lòng trắng trứng, nhưng trứng không bị loại khỏi chế độ ăn của bé. David chỉ dùng một chất bổ sung duy nhất là chất bổ sung vitamin dạng lỏng dành cho em bé. Cha mẹ của David không thử bất kỳ can thiệp dinh dưỡng hoặc thay đổi chế độ ăn nào trước khi tư vấn với tôi.

Tôi có cơ hội làm việc với David trong vài tháng và giúp đỡ cha mẹ của bé thực hiện toàn bộ Kế hoạch dinh dưỡng 10-bước. Cha mẹ của bé hăng hái bắt đầu và nhanh chóng hoàn thành các bước 1 và 2. Cả gia đình chuyển sang tiêu thụ các loại thực phẩm lành mạnh hơn, nguyên chất, sạch và tránh các loại thực phẩm có chứa chất béo chuyển đổi, quá nhiều đường, và carbohydrate tinh chế. Cha mẹ của David chắc chắn là bé ăn đầy đủ chất đạm, chất béo lành mạnh, carbohydrate phức tạp, và nước lọc hàng ngày. Bước 3 và 4 đạt được nhanh chóng và dễ dàng bằng cách thay thế chất bổ sung vitamin dạng lỏng cho em bé bằng chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất hàng ngày cho trẻ em và bắt đầu cho David dùng chất bổ sung axit béo omega-3. Để giải quyết việc từ chối không trái cây và rau quả và số loại thức ăn hạn chế của bé, David bắt đầu được điều trị vấn đề ăn tại một bệnh viện ngoại trú của tư nhân (Bước 5). Vì bé có các vấn đề tiêu hóa, chúng tôi bắt đầu chương trình chữa bệnh đường ruột (Bước 6) có sử dụng probiotic, enzyme tiêu hóa, và các thuốc kháng nấm, điều này đã giải quyết việc bé đi tiêu phân nước, phân lỏng. Chúng tôi biết rằng David có thể bị dị ứng với lòng trắng trứng, vì vậy chúng tôi tiến hành chế độ ăn Loại trừ / Thử mồi (Bước 7) để xác định xem liệu bé có bất kỳ phản ứng tiêu cực nào. Bé không có, do đó, bé được phép ăn trứng trong chế độ ăn của mình. Sau đó chúng tôi bắt đầu chuyển David tới chế độ ăn GFCF (Bước 8). Ngay sau đó bé không còn có các vấn đề về giấc ngủ và chướng bụng và các vấn đề về đường ruột của bé đã được giải quyết, vì vậy chế độ ăn GFCF được tiếp tục. Cha mẹ của David quan tâm đến cách để David đáp ứng với điều trị vitamin B6 liều cao (bước 9), vì vậy chúng tôi thực hiện một phản ứng thử nghiệm một tháng. Đã xác định được là David không phải là một trẻ phản hồi tích cực, và điều trị vitamin B6 liều cao đã bị dừng. Sau khi hoàn tất các bước 1 đến 9, David đã có những cải thiện quan trọng trong chức năng đường ruột, giấc ngủ, hành vi, vấn đề ăn, và các triệu chứng tự kỷ tổng thể của bé.

Cha mẹ của David muốn bắt đầu Bước 10 và chỉ ra một số vấn đề cá nhân ảnh hưởng đến David. Đầu tiên chúng tôi xem xét thử dùng các chất bổ sung dinh dưỡng thêm để tăng cường hệ thống miễn dịch của bé, vì bé thường xuyên mắc các bệnh. Việc David thường bị ốm là mối lo lắng nghiêm trọng cho cha mẹ của bé bởi vì trong những tháng mùa đông David luôn bị ốm, phải nghỉ học nhiều ngày, và học tập thụt lùi. Bé cũng bỏ lỡ các buổi trị liệu nói quan trọng và các buổi trị liệu nghề nghiệp, làm chậm lại sự tiến bộ của bé. Tôi đã đánh giá chế độ ăn và chất bổ sung vitamin và khoáng chất của David để đảm bảo rằng bé đã ăn được ít nhất 100 phần trăm RDA của trẻ với các chất dinh dưỡng quan trọng cho chức năng miễn dịch — sắt, magiê, selen, kẽm và vitamin A, D, và E. Tôi cũng đề nghị một chất bổ sung thêm 200 mg vitamin C và 125 mg dimethylglycine (DMG) để hỗ trợ hệ miễn dịch. Mẹ của David cho biết đây là mùa đông đầu tiên bé không bị cảm lạnh hoặc viêm phế quản lần nào và không phải nhập viện vì viêm phổi. Mẹ của David đã vui mừng rằng David có thể vượt qua toàn bộ mùa đông mà không sợ ốm, vắng mặt ở trường học, và bỏ lỡ các buổi trị liệu nói và trị liệu nghề nghiệp.

Magiê

Magnesium có vai trò trong hơn ba trăm phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Nhiều chức năng của nó bao gồm hỗ trợ hệ thống miễn dịch, giúp hình thành xương, điều tiết lượng đường trong máu, tổng hợp protein, quá trình chuyển hóa năng lượng, duy trì chức năng thần kinh bình thường, và điều chỉnh nhịp tim. Nếu con của bạn không ăn đủ lượng magiê, trẻ có thể bị mất cảm giác ngon miệng, rối loạn, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, và yếu cơ. Dưới đây là một số thực phẩm giàu magiê:

cá bơn

quả hạch các loại hạt

các loại đậu đậu Hà lan

ngũ cốc chưa tinh chế

chuối cây bơ

sữa

Ăn quá nhiều magiê ở dạng chất bổ sung thường gây ra tiêu chảy, buồn nôn, và co rút ở bụng. Phụ lục 3 chỉ ra RDA và UL của trẻ với magiê.

Sê-len

Selen là một chất khoáng mà cơ thể đòi hỏi một lượng rất nhỏ. Vai trò quan trọng nhất của nó là như một chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa tổn thương tế bào gây ra bởi các gốc tự do. Selen cũng giúp hỗ trợ hệ miễn dịch, điều chỉnh chức năng tuyến giáp, bảo vệ chống lại một số bệnh ung thư, và giải thoát cơ thể khỏi kim loại nặng bằng cách hình thành một phức hợp không hoạt động với các kim loại này. Nếu con bạn bị thiếu hụt selen, nó có thể làm suy yếu hệ miễn dịch của trẻ, gây suy giáp, thúc đẩy sự phát triển của bệnh tim, và làm tăng nguy cơ của trẻ với một số bệnh ung thư. Nếu con của bạn có vấn đề về tiêu hóa như tiêu chảy mãn tính và viêm, trẻ có nguy cơ thiếu hụt selen bởi vì cơ thể của trẻ ít có khả năng hấp thụ selen. Sau đây là những loại thực phẩm giàu selen:

quả hạch brazil cá tuyết trứng bánh mì nâng cao chất lượng

cá ngừ gà tây bột yến mạch

thịt bò thịt gà gạo

Ăn quá nhiều selen có thể dẫn đến bệnh tăng selen quá mức, các triệu chứng bao gồm khó chịu, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, hơi thở có mùi tỏi, rụng tóc, và, móng tay trắng đốm. Xem Phụ lục 3 để biết RDA và UL của con bạn với selen.

Vitamin A

Vitamin A thực tế là một nhóm các chất tan trong chất béo. Tiền vitamin A, hoặc vitamin A dưới dạng sẵn sàng được cơ thể sử dụng, có trong các nguồn động vật. Carotenoid có trong nguồn thực vật và phải được chuyển đổi thành vitamin A. (Bạn có thể nghe nói về beta carotene, đây là chất carotenoid phổ biến nhất.) Vitamin A rất quan trọng để hệ thống miễn dịch hoạt động đúng. Nó liên quan đến việc tạo thành các tế bào máu trắng, để tiêu diệt các vi khuẩn có hại và vi rút. Vitamin A cũng có vai trò quan trọng trong việc nhìn, phát triển não, sự tăng trưởng và phát triển xương, và các đặc tính chống oxy hóa của nó có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Nếu con bạn bị thiếu hụt vitamin A, nó sẽ gây hại cho hệ thống miễn dịch của trẻ và làm cho trẻ dễ bị nhiều loại nhiễm trùng. Ngay cả thiếu hụt nhẹ vitamin A có thể gây chán ăn, giảm tốc độ tăng trưởng, chậm phát triển xương, và bệnh quáng gà. Một số loại thực phẩm giàu tiền vitamin A là:

gan lòng đỏ trứng kem sữa nguyên

dầu gan cá bơ sữa có bổ sung kem

Dưới đây là một số thực phẩm giàu carotenoid:

cà rốt

cải xoăn

xoài

đậu

cà chua

rau bina

dưa đỏ

đu đủ

đào

ớt đỏ

Quá nhiều vitamin A có thể dẫn đến bệnh quá nhiều vitamin A, một rối loạn mà mức độ vitamin cao được tích tụ trong cơ thể. Thừa vitamin A có thể gây độc và gây ra các phản ứng như buồn nôn, nôn mửa, nhức đầu, cơ bắp không phối hợp, giảm mật độ xương, tổn thương gan, và các dị tật bẩm sinh. Bệnh quá nhiều vitamin A thường chỉ xảy ra khi dùng chất bổ sung tiền vitamin A. Hãy xem Phụ lục 3 để biết RDA và UL của con bạn với vitamin A.

Vitamin C

Vitamin C là một vitamin tan trong nước, nó thực hiện một loạt các chức năng quan trọng. Nó giúp hỗ trợ hệ thống miễn dịch; trong thực tế, một số nghiên cứu chỉ ra rằng vitamin C làm giảm tác động, thời gian, và mức độ nghiêm trọng của cảm lạnh thông thường. Khả năng chống oxy hóa của nó giúp ngăn ngừa các bệnh mãn tính như ung thư, bệnh tim, và đục thủy tinh thể gây ra do ôxy hoá. Vitamin C làm tăng khả năng cơ thể hấp thu sắt, chữa lành vết thương, và bảo vệ chống lại bệnh hen suyễn. Vitamin C là một đồng nhân tố trong hệ thống vận chuyển carnitine và chuyển đổi tryptophan thành serotonin, và nó bảo tồn nồng độ glutathione trong tế bào. Nó cũng có vai trò quan trọng trong hệ thống giải độc, giúp cơ thể loại bỏ thuốc trừ sâu và kim loại nặng. Nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ acid ascorbic (dạng vitamin C chính của chế độ ăn) trong huyết thanh cao có liên quan đến việc giảm xác suất của mức chì trong máu cao. Một nghiên cứu chỉ ra rằng axit ascorbic có khả năng tẩy độc (chất càng cua) tương đương với EDTA, một tác nhân tẩy độc-chì, và cũng có thể làm giảm mức chì trong máu. (Xem phần về trị liệu tẩy độc trên trang 140 để biết thêm về chủ đề này).

giàu vitamin C: nước cam ép

nước cà chua ép

cam dưa đỏ

cây cải Brussels

bắp cải

bông cải xanh

dâu tây

măng tây

rau cải xoăn

đậu xanh

khoai tây

dứa

Vì vitamin C thừa được bài tiết trong nước tiểu, nên con bạn có thể dùng vitamin C số lượng lớn mà không có nguy cơ đối với sức khỏe của trẻ. Tuy nhiên, liều lượng lớn trong một thời gian dài đôi khi dẫn đến các vấn đề như buồn nôn, nôn, đau rút138

Nếu con bạn bị thiếu hụt vitamin C, vết thương không thể chữa lành nhanh chóng, trẻ có thể có sức đề kháng thấp hơn với cảm lạnh và nhiễm trùng, và trẻ có thể nhạy cảm hơn với một loạt các bệnh mãn tính. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể mắc bệnh scoc-bút, gây chảy máu nướu răng, răng lung lay, yếu cơ, mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy, các vấn đề về phổi, và các vấn đề về thận. Đây là một số thực phẩm bụng, và tiêu chảy. Bạn có thể thấy RDA và UL của con bạn với vitamin C trong Phụ lục 3. Đối với liều lượng đề nghị để tăng cường hệ thống miễn dịch và giải độc, chuyên gia dinh dưỡng của trẻ có thể tham khảo trong PDF về dinh dưỡng bổ sung.

Trong cộng đồng tự kỷ, vitamin C đã đạt được sự chú ý vì đang nổi lên nghiên cứu cho thấy điều trị vitamin C liều cao có tác dụng tích cực đến hành vi của trẻ tự kỷ. Nếu bạn quan tâm tới việc thử phản ứng với điều trị vitamin C liều cao để xem liệu con bạn là trẻ đáp ứng tích cực, hãy hỏi chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của con bạn về liều lượng.

Vitamin D

Vitamin D là một vitamin tan trong chất béo, nó hỗ trợ hấp thu canxi và phospho, giúp hình thành và duy trì xương và răng khỏe mạnh . Vitamin D hỗ trợ hệ thống miễn dịch bằng cách thúc đẩy tế bào giết tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy vitamin D có thể bảo vệ phòng một số loại ung thư, bệnh tiểu đường dạng I và dạng II, không dung nạp gluco, cao huyết áp, điếc tai điện tử, và bệnh đa xơ cứng. Ngoài ra cũng có nghiên cứu cho rằng nó có vai trò trong việc điều chỉnh tâm trạng bằng cách tác động tới nồng độ serotonin trong não. Ở trẻ em, thiếu hụt vitamin D gây bệnh còi xương, điều này gây dị dạng xương, xương mềm, yếu cơ, và chậm phát triển răng. Sự thiếu hụt thường được thấy ở trẻ em có chế độ ăn kiêng sữa hoặc ăn chay nghiêm ngặt. Một số loại thực phẩm giàu vitamin D (lưu ý: Vitamin D được cơ thể chúng ta sản xuất khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời) là:

dầu gan cá tuyết cá mòi trứng

cá hồi sữa tăng cường gan

cá thu bơ thực vật tăng cường pho mát

cá ngừ ngũ cốc ăn liền

Quá nhiều vitamin D có thể dẫn đến các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, suy nhược, sụt cân, táo bón, chán ăn, đau đầu, và sự nhầm lẫn, mặc dù điều này không phải do ăn vitamin D có nguồn gốc thực phẩm. Độc tính có nhiều khả năng xảy ra do dùng chất bổ sung quá nhiều, chẳng hạn như dầu gan cá. Phụ lục 3 liệt kê RDA và UL của con bạn với vitamin D.

Vitamin E

Vitamin E là một vitamin tan trong chất béo tồn tại dưới tám dạng khác nhau, dạng hoạt động mạnh nhất alpha-tocopherol. Nó hoạt động để hỗ trợ hệ miễn dịch và có đặc tính chống oxy hóa mạnh để bảo vệ tế bào chống lại các tác hại của các gốc tự do có thể gây ra các bệnh mãn tính và ung thư. Đặc tính chống oxy hóa của nó cũng giúp bảo vệ não và hệ thần kinh trung ương. Sự thiếu hụt vitamin E có thể dẫn đến bệnh thần kinh ngoại vi (sự thoái hóa của các dây thần kinh ở tay và bàn chân) và làm tăng nguy cơ ung thư, bệnh Alzheimer, và bệnh tim. Ngay cả thiếu hụt vitamin E nhẹ có thể làm giảm chức năng miễn dịch của trẻ. Đây là một số thực phẩm giàu vitamin E:

mầm lúa mì dầu thực vật

quả hạch và các loại hạt các loại rau xanh

Quá nhiều vitamin E không độc, nhưng vì nó hoạt động như một chất chống đông máu, nên một lượng dư thừa vitamin E có thể làm tăng nguy cơ chảy máu kéo dài. Phụ lục 3 liệt kê RDA và UL của con bạn với vitamin E.

CÁC BỔ XUNG TĂNG CƯỜNG HỆ THỐNG KHỬ ĐỘC

  • Axit Alpha-Lipoic

  • Glutathione

  • N-acetylcysteine (NAC)

  • Selen

  • Trimethylglycine (TMG)

  • Vitamin C

Nhiều người trong cộng đồng tự kỷ cũng tin rằng trẻ tự kỷ có rối loạn chức năng trong hệ thống giải độc gan của trẻ. Lý thuyết này nói rằng gan của trẻ mắc chứng tự kỷ có thể bài tiết không hiệu quả các chất độc như thủy ngân, chì, asen, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, một số dung môi, và các hóa chất khác. Các chất độc không được bài tiết có thể qua được hàng rào máu-não, bám vào mô não và làm tổn thương não bộ, do vậy trẻ tự kỷ dễ bị tổn thương thần kinh do tiếp xúc với các độc tố này. Các hóa chất độc cho thần kinh đặc biệt nguy hiểm với bộ não phát triển nhanh chóng của một trẻ sơ sinh, thai nhi, và trẻ em. Tiếp xúc với các chất độc cho thần kinh tại những thời điểm dễ bị tổn thương có thể dẫn đến thiểu năng học tập, thiếu chú ý, hiếu động thái quá, bốc đồng, hành vi hiếu chiến, nói chậm, chỉ số IQ thấp hơn và chậm phát triển tâm thần. Để tìm hiểu thêm về các chất độc cho thần kinh và ảnh hưởng có thể có của chúng tới con của bạn, tôi khuyên bạn nên đọc báo cáo “Những chất độc đe dọa sự phát triển của trẻ theo một cách bất lợi”, mà bạn có thể tìm thấy ở www.igc.org / psr. Nguồn tài nguyên tuyệt vời này bàn về các yếu tố môi trường góp phần vào các hạn chế trong học tập, trong hành vi, và trong phát triển ở trẻ em của chúng ta.

Trị liệu tẩy độc

Các bác sĩ có sử dụng các can thiệp chất bổ sung và thay thế để điều trị chứng tự kỷ thường khuyên bạn một cách điều trị gây nhiều tranh cãi được gọi là trị liệu tẩy độc. Trong trị liệu tẩy độc, một loại thuốc hút các kim loại nặng trong máu, như EDTA, DMSA, hoặc DMPS, được truyền qua tĩnh mạch vào cơ thể của trẻ để giúp loại bỏ độc tố qua nước tiểu và phân. Trị liệu tẩy độc thường được sử dụng để điều trị ngộ độc thủy ngân và chì cho những trường hợp bị nhiễm nặng, đe dọa tính mạng, phơi nhiễm không kinh niên, ở mức độ ít hơn các độc tố. Phương pháp điều trị này gây tranh cãi bởi vì người ta đã thực hiện rất ít nghiên cứu khoa học để khẳng định tính hiệu quả của nó trong điều trị tự kỷ, và nó có thể gây ra rủi ro nghiêm trọng cho con của bạn. Trị liệu tẩy độc có thể dẫn đến suy giảm khoáng chất, vỡ các tế bào máu, tổn thương gan, và ức chế tủy xương. Một số trẻ em đã chết vì lỗi của thuốc. Nếu bạn quyết định thử điều trị tẩy độc, chức năng thận và gan của trẻ và thành phần máu phải được giám sát chặt chẽ để tránh tổn hại tiềm tàng.

Những ảnh hưởng của phơi nhiễm mãn tính, phơi nhiễm ở mức thấp với các hóa chất độc hại cho con của bạn nên được ghi lại nghiêm túc, nhưng tôi khuyên bạn nên xem xét cách điều trị ít gây tranh cãi. Vitamin, khoáng chất, các axit amin có chứa lưu huỳnh, dưỡng dược, và các sửa đổi chế độ ăn đều có thể làm tăng cường một cách tự nhiên hệ thống giải độc của con bạn. Xem Phụ lục 6 trên trang 397 để xem kế hoạch dinh dưỡng toàn diện của tôi để tăng cường giải độc, trong đó bao gồm việc giảm tiếp xúc với chất độc, theo một chế độ ăn phòng ngừa, và lựa chọn các chất dinh dưỡng để hỗ trợ chức năng giải độc của con bạn.

Axit Alpha-Lipoic

Axit alpha-lipoic là một hợp chất disulfide tìm thấy trong nguồn thực vật và động vật. Nó hoạt động như một chất chống oxy hóa, giúp hệ miễn dịch, và có thể có tác dụng chống lão hóa. Axit alpha-lipoic có vai trò quan trọng trong hệ thống giải độc như là một tiền chất của L-cysteine và chất tái chế của glutathione, là một chất chống oxy hóa quan trọng giúp loại bỏ độc tố khỏi cơ thể. Trong thực tế, axit alpha lipoic thực sự có khả năng làm tăng mức glutathione trong cơ thể. Đây là một số thực phẩm giàu axit alpha lipoic:

nội tạng động vật bông cải xanh bắp cải Brussels

rau bina đậu cà chua

Chưa thấy ai phản ánh về các phản ứng bất lợi khi ăn quá nhiều axit alpha-lipoic. Tuy nhiên, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng của trẻ để được tư vấn về liều dùng. Tôi gợi ý liều lượng cho các chất bổ sung trong sách tham khảo cho bác sĩ (PDR) của chất bổ sung quốc gia.

Glutathione

Glutathione là một chuỗi ba peptide được sản sinh trong cơ thể từ các axit amin cysteine, glutamate, và glycine. Như tôi đã đề cập ở trên, glutathione rất quan trọng cho hệ thống giải độc của con bạn. Đó là một đồng nhân tố cho các enzym glutathione S-transferase tham gia vào việc giải độc các chất độc hóa học. Nó cũng có chức năng như một chất chống oxy hóa và giúp hệ thống miễn dịch hoạt động đúng cách. Glutathione dưới dạng chất bổ sung không được hấp thu tốt ở đường tiêu hóa, do đó thường người ta không khuyên dùng làm chất bổ sung qua đường miệng. Cách giải quyết vấn đề này là dùng tiền chất của nó—có nghĩa là, các phân tử mà cơ thể cần để sản sinh glutathione— hơn là chính bản thân glutathione. Các tiền chất chính của glutathione là L-cysteine và N-acetylcysteine (NAC), cả hai đều có sẵn trong các hình thức chất bổ sung. Tiền chất cysteine của glutathione được tìm thấy trong các loại thực phẩm giàu protein như sau:

thịt bò thịt gà tây nước serum sữa protein sữa

thịt lợn trứng thịt gà

Chưa thấy ai phản ánh về phản ứng phụ khi dùng quá nhiều glutathione qua đường miệng. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khuyên nên thận trọng với các chất bổ sung L- cysteine bởi vì chưa có nghiên cứu về độ an toàn lâu dài được thực hiện. Trong thực tế, đa số chuyên gia y tế đề nghị trẻ em tránh L-cysteine ở dạng chất bổ sung. NAC là chất bổ sung ưa thích cho cả người lớn và trẻ em do cơ thể hấp thụ nó tốt hơn glutathione. Chất bổ sung NAC có thể gây buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, nhức đầu, và phát ban. Nếu bạn quan tâm đến việc bổ sung con bạn với NAC, điều quan trọng là bạn thảo luận về liều lượng với chuyên gia dinh dưỡng hay bác sĩ của trẻ, họ là người có thể tham khảo các PDR về các chất bổ sung.

Trimethylglycine (TMG)

Trimethylglycine, còn được gọi là betain, là một chất hòa tan trong nước liên quan đến choline. Một chức năng quan trọng của TMG là khả năng cho một nhóm methyl của nó và chuyển đổi homcysteine thành methionine, chất này sau đó được chuyển đổi sang S-adenosyl-L-methionine (SAMe). SAMe có thể có tác động tích cực đến tâm trạng, cảm xúc hạnh phúc và trầm cảm. SAMe cũng có thể có vai trò trong việc giải độc bằng cách tăng mức độ glutathione trong gan. (Xin lưu ý: SAMe không nên sử dụng ở trẻ em dưới dạng chất bổ sung.) TMG hoạt động chặt chẽ với các chất cho methyl khác, chẳng hạn như choline, acid folic, vitamin B12, và SAMe, và nó có vai trò quan trọng trong sản xuất carnitine. Một khi TMG đã cho đi nhóm methyl, nó sẽ trở thành DMG, điều này cũng được xác định là có lợi ích tích cực tiềm tàng ở trẻ tự kỷ (xem trang 133 để biết thêm về DMG). Trimethylglycine có thể thấy trong các thực phẩm như củ cải đường, rau bina, lúa mì, và động vật có vỏ.

Không có báo cáo về các phản ứng bất lợi khi dùng quá liều TMG, nhưng một số người đã thông báo bị buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy. Các chuyên gia ước tính rằng những người ăn chế độ ăn bình thường có bột mì và hải sản có được khoảng 100-1,000 mg của TMG mỗi ngày, vì vậy nếu bạn muốn thực hiện phản ứng thử nghiệm với TMG bổ sung, tôi sẽ cho liều lượng dựa trên những gì có trong một chế độ ăn trẻ hay ăn. Tôi cũng khuyến khích bạn thảo luận về liều lượng cụ thể cho con bạn với chuyên gia dinh dưỡng hay bác sĩ của trẻ.

CÁC BỔ SUNG KHÁC ĐƯỢC QUAN TÂM

• Carnosine • Dimethylglycine (DMG) • Flavonoid • Vitamin B12

Các chất bổ sung đã được cộng đồng tự kỷ quan tâm rất nhiều, vì nhiều phụ huynh và chuyên gia y tế đã thấy chúng có lợi cho trẻ mắc chứng tự kỷ. Nếu bạn đang quan tâm đến việc thử cho con bạn dùng một hoặc nhiều loại chất bổ sung, bạn hãy thử phản ứng trong một tháng để xác định xem con bạn có là trẻ phản hồi tích cực hay không. Nếu bạn thấy chất bổ sung không giúp cho con mình, hãy dừng cho con bạn dùng nó.

Carnosine

Carnosine là một dipeptide (sự kết hợp của hai axit amin—alanine và histidine), nó tập trung nhiều trong não và mô cơ. Nó hoạt động như một chất chống oxy hóa mạnh, bảo vệ cơ thể khỏi các gốc tự do, và cũng có một phần chức năng dẫn truyền thần kinh. Nó được bán dưới dạng một chất bổ sung có tên là L-carnosine. Một nghiên cứu tám tuần trong năm 2002 được công bố trên Tạp chí Thần kinh học trẻ em báo cáo rằng trẻ tự kỷ được bổ sung 400 mg L-carnosine hai lần một ngày cho thấy sự tiến bộ trong hành vi, hòa nhập xã hội, giao tiếp, và tăng khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ. Carnosine có thể được tìm thấy trong thịt, thịt gia cầm, và cá.

Quá nhiều L-carnosine có thể gây khó chịu, hiếu động thái quá, và mất ngủ. Nếu bạn muốn cho con của bạn thử dùng chất bổ sung L-carnosine, bạn chỉ nên làm như vậy khi có giám sát y tế.

Flavonoid

Flavonoid, hoặc bioflavonoid, đề cập đến một nhóm các hợp chất tìm thấy trong thực vật. Chúng được biết đến phổ biến nhất do các thuộc tính chống oxy hóa của chúng, nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng flavonoid cũng có các đặc tính chống ung thư, kháng khuẩn, chống dị ứng, và chống viêm. Flavonoid phổ biến nhất được sử dụng để điều trị chứng tự kỷ là oligomeric proanthocyanidins (OPC). Người ta cho rằng nó cải thiện các triệu chứng ADHD, nhưng cũng có vài nghiên cứu đã thực hiện để chứng minh điều này. Flavonoid có thể được tìm thấy trong trái cây họ cam quýt, quả berry, chè, ginkgo biloba, rượu vang đỏ và sôcôla đen.

Chỉ cần một lượng nhỏ flavonoid là đủ để cải thiện cho sức khỏe. Dùng quá nhiều trong chất bổ sung vào chế độ ăn không chỉ không có lợi hơn, mà nó có thể gây hại thật sự. Nếu bạn muốn biết liệu OPC bổ sung có cải thiện các triệu chứng ADHD của con bạn không, hãy nói chuyện với chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của trẻ về liều lượng trước khi bắt đầu phản ứng thử nghiệm một tháng.

Vitamin B12

Vitamin B12 ở dạng methylcobalamin, còn được gọi là methyl-B12, trở thành can thiệp dinh dưỡng bổ sung rất phổ biến để điều trị bệnh tự kỷ. Người ta có giả thuyết rằng trẻ tự kỷ có thể có những bất thường trong các chuỗi phản ứng methyl hóa của trẻ làm ảnh hưởng đến khả năng của cơ thể trẻ duy trì vỏ myelin (lớp cách nhiệt, cách điện bao phủ các sợi trục của các tế bào thần kinh trong não) và sinh ra dẫn truyền thần kinh. Vitamin B12, axit folic và vitamin B6 (dưới dạng pyridoxal 5 phosphate) làm việc cùng với nhau để chuyển đổi homocysteine thành methionine, methionine sau đó được chuyển đổi thành S-adenosylmethionine (SAMe). SAMe là chất cho các nhóm methyl chính trong các phản ứng methyl hóa. Vì vitamin B12 là một đồng nhân tố quan trọng trong quá trình methylat hóa, nên liều lượng lớn vitamin B12 có thể giúp sửa những bất thường trong các chuỗi phản ứng methyl hóa của trẻ.

Cơ thể khó hấp thu vitamin B12 qua đường tiêu hóa. Những người bị rối loạn tiêu hóa, bị thiếu yếu tố nội tại, có lượng axit chlohydric trong dạ dày thấp, bị vi khuẩn phát triển quá mức trong ruột non, có ký sinh trùng, bị rối loạn viêm ruột, hoặc bị các vấn đề tiêu hóa như tiêu chảy mãn tính và viêm thì việc hấp thụ vitamin B12 còn gặp khó khăn lớn hơn và đặc biệt có nguy cơ bị thiếu hụt vitamin B12. Nếu con của bạn bị thiếu hụt B12, trẻ có thể có các triệu chứng như giảm cân, ăn không ngon miệng, tiêu chảy, táo bón, đau bụng, và một cảm giác đau rát trong lưỡi của mình gọi là viêm lưỡi. Trẻ cũng có thể bị thay đổi nhận thức và mất trí nhớ. Vitamin B12 có thể có trong lòng đỏ trứng, trai, sò, cua, cá mòi, cá hồi, và ngũ cốc tăng cường.

Không giống như các chất bổ sung khác mà tôi đã thảo luận, methyl-B12 được cung cấp bằng cách tiêm để tối đa hóa hấp thụ vào cơ thể. Mọi người truyền miệng nhau về các cải thiện đáng kể ở trẻ tự kỷ dùng thuốc tiêm methyl-B12, nhưng cho đến nay có được không có bằng chứng hỗ trợ từ các nghiên cứu được công bố. Nếu bạn muốn cho con bạn thử phản ứng thử nghiệm thuốc tiêm liều cao methyl-B12, đầu tiên hãy thảo luận với bác sĩ của trẻ.

Các chất bổ sung có thể là độc tố

Rất khó khăn để hấp thụ quá nhiều một vitamin hoặc khoáng chất chỉ thông qua chế độ ăn, nhưng khi dung các chất bổ sung lại là một chuyện khác. Để tránh nguy cơ ngộ độc, không cho con bạn dùng vượt quá UL cho một loại vitamin hay khoáng chất, trừ khi chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của trẻ khuyến cáo điều này và theo dõi tiến triển của trẻ. Ngoài ra, bạn hãy chắc chắn rằng bạn được giải thích rõ ràng bất kỳ phản ứng bất lợi tiềm tàng nào.

DỰ ÁN NO. 10

  1. Khi bạn đọc xong chương này, bạn hãy lập danh sách các chất bổ sung có thể mang lại lợi ích cho con của bạn dựa trên các triệu chứng của trẻ.

  2. Đưa danh sách của bạn cho chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ của trẻ và thảo luận xem những chất bổ sung nào phù hợp với trẻ. Dưới đây là danh sách các câu hỏi tôi gợi ý bạn nên hỏi liên quan đến các chất bổ sung tôi đã thảo luận trong chương này:

• Những chất dinh dưỡng nào con tôi có thể hấp thụ từ thức ăn?

  • Con tôi đã nhận đủ chất dinh dưỡng nào từ các chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất hiện tại của trẻ?

  • Liệu có cần làm bất kỳ xét nghiệm nào trước khi uống các chất bổ sung? (Các xét nghiệm cơ bản được liệt kê trong Phụ lục 7.)

Với mỗi loại chất bổ sung bạn đang cân nhắc dùng cho con bạn, bạn cần biết:

  • Tôi nên mong chờ sẽ thuyên giảm triệu chứng nào?

  • Liệu có bất kỳ tác dụng phụ tiềm tàng hoặc phản ứng bất lợi nào không?

  • Liệu có sự tương tác tiềm tàng nào với các thuốc của con tôi?

  • Liều lượng an toàn và hiệu quả cho con của tôi là bao nhiêu?

  • Trẻ phải dùng chất bổ sung bao lâu?

  • Làm thế nào để tôi đánh giá được hiệu quả của chất bổ sung?

  • Loại chất bổ sung này nhằm để sử dụng ngắn hạn hay sử dụng dài hạn?

  • Khi nào tôi nên ngừng dùng chất bổ sung?

  • Hãy cùng phát triển kế hoạch kết hợp các chất bổ sung mà bạn chọn vào kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng hiện tại của con bạn.

Xin chúc mừng—bạn đã đến phần cuối cùng của Kế hoạch Dinh dưỡng 10-Bước của tôi, và hy vọng bạn sẽ thấy một số cải thiện thú vị và đáng khích lệ trong các triệu chứng của con bạn. Hãy nhớ rằng, cũng như mọi điều trị khác, một số biện pháp can thiệp dinh dưỡng sẽ rất hữu ích cho con bạn và một số thì không. Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ là một quá trình liên tục và thường là quá trình chậm. Nhưng nếu bạn kiên định, nhẫn nại, và duy trì một thái độ tích cực, bạn sẽ tìm thấy lộ trình dinh dưỡng đúng đắn cho con bạn. Hãy tận hưởng hành trình này!


Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà gửi tới phụ huynh cũng như  các thầy cô giáo cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ
Cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ sẽ chỉ cho bạn cách để làm giảm bớt cho con bạn khỏi những gánh nặng về dinh dưỡng. Bạn sẽ thấy rằng mỗi vấn đề dinh dưỡng của con bạn sẽ được xử lý và giải quyết, sức khỏe và hành vi của trẻ sẽ cải thiện.
Nguồn:
Người dịch: Cảm ơn CLB Gia đình trẻ Tự kỷ Hà Nội đã dịch và chia sẻ cuốn sách này tới cộng đồng
Tổ chức đã post cuốn sách này: sachtuky.com

Bình luận

bình luận

Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 11
Đánh giá bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*