Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 5



Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà gửi tới phụ huynh cũng như  các thầy cô giáo cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ
Cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ sẽ chỉ cho bạn cách để làm giảm bớt cho con bạn khỏi những gánh nặng về dinh dưỡng. Bạn sẽ thấy rằng mỗi vấn đề dinh dưỡng của con bạn sẽ được xử lý và giải quyết, sức khỏe và hành vi của trẻ sẽ cải thiện.
Nguồn:
Người dịch: Cảm ơn CLB Gia đình trẻ Tự kỷ Hà Nội đã dịch và chia sẻ cuốn sách này tới cộng đồng
Tổ chức đã post cuốn sách này: sachtuky.com
——————————–

Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 5: Chương 1: Kế hoạch – Bước 4

Tăng lượng axit béo omega-3 ăn vào cho con bạn

Như tôi đã nói ở Bước 1, các axit béo thiết yếu (EFA) là chất béo cần thiết mà cơ thể chúng ta không thể tự tạo được mà phải có được thông qua chế độ ăn của chúng ta. Có hai nhóm EFA: axit béo omega-3 và axit béo omega-6. Tỷ lệ giữa các mức độ axit béo omega-3 và axit béo omega-6 rất quan trọng đối với sức khỏe và phát triển của bộ não và cơ thể. Tỷ lệ tối ưu của axit béo omega-6 với axit béo omega-3 trong chế độ ăn uống của chúng ta là 4:1. Thật không may, hầu hết các chế độ ăn của người Mỹ cung cấp quá nhiều axit béo omega-6 và quá ít axit béo omega-3, tỷ lệ trung bình điển hình là hai mươi axit béo omega-6 trên một axit béo omega-3 (omega-6 : omega-3 là 20:1). Sự thiếu hụt axit béo omega- 3 trong chế độ ăn của chúng ta, đặc biệt là axit docosahexaenoic (DHA) và axit eicosapentaenoic (EPA) có liên quan đến bệnh tự kỷ, chứng khó đọc, tăng động giảm tập trung chú ý, khó dùng cử động, trầm cảm và lo âu.

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nhi khoa Phát triển và Hành vi tháng Tư 2007 hỗ trợ nghiên cứu trước đó cho thấy rằng bổ sung chế độ ăn của trẻ em với các axít béo omega-3 giúp cải thiện việc học kém và các vấn đề hành vi. Một bài báo khác trong tạp chí Tâm lý sinh học công bố năm 2007 phát hiện ra rằng bổ sung thêm với axit béo omega-3 giảm hiếu động thái quá ở trẻ em mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ. Nhiều nghiên cứu khác cho thấy bổ sung thêm với axit béo omega-3 làm giảm sự hung hăng, cải thiện khả năng đọc và phát âm, và cải thiện đáng kể sự quá hiếu động, thiếu chú ý, đặc tính bốc đồng, và lo lắng cũng như các vấn đề nhận thức. Trong chương này, chúng tôi sẽ tập trung vào cách để tăng lượng axit béo omega-3 con của bạn tiêu thụ ở mức cơ bản hàng ngày.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA EPA và DHA

Các axit béo omega-3 EPA và DHA có vai trò quan trọng trong cơ thể chúng ta. EPA giúp tăng lưu lượng máu, việc này ảnh hưởng đến các hormone và hệ miễn dịch và ảnh hưởng đến chức năng não. DHA là thành phần cấu trúc quan trọng của não. Nó hỗ trợ dẫn truyền thần kinh giữa các tế bào não để cung cấp tối ưu chức năng nhận thức, việc này ảnh hưởng đến học tập và bộ nhớ. DHA cũng là một thành phần của võng mạc của mắt, nó hỗ trợ thị lực (độ sắc nét của tầm nhìn) và hoạt động tối ưu, cũng như quá trình nhìn. DHA cũng rất quan trọng trong quá trình mang thai, cho con bú, và trẻ sơ sinh vì sự phát triển não bộ nhanh chóng của thai nhi, trẻ sơ sinh, và trẻ em. Cả EPA và DHA đều được chuyển đổi thành các chất giống như nội tiết tố gọi là prostaglandin, giúp điều tiết hoạt động của tế bào và chức năng tim mạch khỏe mạnh. Rõ ràng, ăn đầy đủ EPA và DHA là rất quan trọng, đặc biệt là cho trẻ em.

Thật không may, chế độ ăn điển hình của trẻ chứa rất ít cả DHA và EPA. Trong thực tế, một đứa trẻ trung bình tiêu thụ 19 mg DHA một ngày, đó chỉ là một phần nhỏ của lượng DHA trẻ cần được ăn. Mặc dù trẻ em chỉ ăn một lượng nhỏ các axit béo omega-3 có nguồn gốc thực vật axit alpha-linolenic (ALA), cơ thể phải chuyển đổi ALA thành EPA và DHA có lợi cho não, mắt, và chức năng cơ thể. Sự chuyển hóa trao đổi chất của ALA thành EPA và đặc biệt là DHA rất thấp, thậm chí ở những người khỏe mạnh

Điều quan trọng cần biết là đàn ông ít có khả năng chuyển hóa ALA thành EPA và DHA hơn phụ nữ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em được chẩn đoán mắc ADHD, chứng khó đọc, và khó dùng cử động bị tổn thương khả năng chuyển đổi ALA thành EPA và DHA ngay cả khi trẻ ăn đầy đủ số lượng ALA trong chế độ ăn. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng điều này là do sự thiếu hụt của enzyme delta-6 desaturase, enzyme này có vai trò trong việc chuyển đổi ALA thành EPA và DHA. Người ta tin rằng cách tốt nhất để bù đắp được sự thiếu hụt của enzyme delta-6 desaturase của con bạn là cho trẻ một nguồn dinh dưỡng trực tiếp của EPA và DHA. Điều đó nói rằng, việc con bạn ăn thức ăn giàu ALA vẫn quan trọng, vì chúng là nguồn cung cấp axit béo omega-3. Các biểu đồ sau đây liệt kê các loại thực phẩm có chứa ALA, DHA và EPA, để bạn có thể bắt đầu để kết hợp chúng vào chế độ ăn của con mình.

Nguồn thức ăn chứa ALA

Dầu hạt lanh Hạt lanh Dầu cây cải dầu Dầu đậu tương Quả óc chó

Thực phẩm

ALA (grams /1 thìa cà-phê)

  1. 2.4

  2. 0.9

2.6 (grams / 1 oz; 14 nửa quả)

Nguồn: USDA, Dịch vụ nghiên cứu nông nghiệp, Dữ liệu phòng thí nghiệm dinh dưỡng

Nguồn thức ăn chứa DHA và EPA

Thức ăn

DHA và EPA kết hợp (mg /1 ounce)

cá hồi, Đại Tây Dương, nuôi

608

cá trích, Thái Bình Dương

602

cá trích , Đại Tây Dương

571

cá hồi , Đại Tây Dương , hoang dã

521

cá ngừ, cá tươi, màu vây xanh

426

cá thu, Đại Tây Dương

341

cá mòi (đóng hộp trong dầu)

278

cá hồi, hỗn hợp các loài

265

cá bơn

142

ca’ chim lơn

132

cá tuyết, Thái Bình Dương

78

cá ngừ, trắng (đóng hộp trong dầu)

69

ca’ vược nhỏ

68

cá da trơn, hoang dã

67

cá tra, nuôi

50

cá tuyết, Đại Tây Dương

45

cá ngừ, màu sáng (đóng hộp trong

36

dầu)

Nguồn: USDA, Dịch vụ nghiên cứu nông nghiệp, Dữ liệu Phòng thí nghiệm dinh dưỡng

CÁC NGUỒN THỨC ĂN KHÁC CÓ CHỨA AXIT BÉO OMEGA-3

Một xu hướng mới đã xuất hiện gần đây, đó là các loại thực phẩm có tăng cường axit béo omega-3. Người ta có thể thấy DHA trong nhiều loại thức ăn, chẳng hạn như sữa bột, sữa chua, bánh mì, và nước trái cây. Trứng không phải là nguồn tự nhiên tốt cung cấp axit béo omega-3, nhưng bây giờ trứng làm giàu thêm omega -3, có chứa tới 400 mg DHA và EPA, được bán rộng rãi trong các cửa hàng tạp hóa. Trứng làm giàu thêm omega -3 được sản xuất bằng cách cho gà mái ăn một chế độ ăn đặc biệt chứa hạt lanh xay. Mức độ thực tế của DHA và EPA thay đổi tùy thuộc vào lượng hạt lanh trong thức ăn cho gà. Gà nuôi thả ăn cỏ và côn trùng cũng sản xuất trứng chứa axit béo omega-3 mức độ cao hơn bình thường. Cả hai loại trứng là sự lựa chọn tốt cho con bạn.

“Khi tôi biết được rằng sự thiếu hụt axit béo omega-3 có liên quan đến chứng khó đọc và tăng động giảm tập trung chú ý, điều này bắt tôi phải chú ý vì con trai tôi Carlos được chẩn đoán mắc cả hai rối loạn này. Tôi đã rất lo lắng để thêm EPA và DHA vào chế độ ăn của Carlos, nhưng nó không thích ăn cá và tôi cũng lo lắng về thủy ngân.

Tôi đã cố gắng để cho Carlos ăn dầu gan cá tuyết, nhưng nó từ chối ngay cả khi được ướp hương vị khác. Để thêm axit béo omega-3 vào chế độ ăn của Carlos tự nhiên hơn, tôi đã thay đổi sữa của Carlos bằng sữa hữu cơ tăng cường DHA và chuyển từ trứng bình thường bằng những quả trứng làm giàu DHA. Tôi cũng đã thử cả Coromega, thứ mà nó thích. Tôi cảm thấy tốt là tôi có thể cung cấp cho Carlos dinh dưỡng rất quan trọng cho não. Tôi vẫn chưa thấy kết quả nào đáng kể, nhưng tôi hy vọng rằng Carlos sẽ dần dần trở nên tập trung hơn, ít quá hiếu động hơn, bình tĩnh hơn, và có thể hưởng lợi tốt hơn từ các khóa trị liệu đọc cho mình. “

-Mẹ của Carlos, một đứa trẻ sáu tuổi mắc chứng khó đọc và ADHD

CON BẠN NÊN ĂN BAO NHIÊU AXIT BÉO OMEGA-3

Không có RDA cho axit béo omega-3. Thay vào đó, Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng Hoa Kỳ đã thiết lập Lượng tiêu thụ đầy đủ (AI) của ALA. Không có yêu cầu cụ thể được thiết lập cho DHA và EPA, tuy nhiên Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng chỉ ra rằng có đến 10 phần trăm của AI cho ALA có thể ở dạng kết hợp giữa DHA và EPA. Các biểu đồ dưới đây sẽ giúp bạn xác định con bạn nên ăn bao nhiêu để phù hợp theo các tiêu chuẩn này.

Lượng tiêu thụ đầy đủ (AI) của ALA

Tuổi

ALA (gram/ngày)

Tuổi

ALA (gram/ngày)

1-3 tuổi

0.7

4-8 tuổi

0.9

Trẻ em trai

Trẻ em gái

9-13 tuổi

1.2

9-13 tuổi

1.0

14 tuổi và lớn hơn

1.6

14 tuổi và lớn hơn

1.1

Nguồn: Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng, Viện Y học, Viện Hàn lâm Quốc gia

Lượng tiêu thụ đầy đủ (AI) của DHA và EPA (Dựa trên 10 % của ALA)

Tuồi

1-3 tuổi 4-8 tuổi 9-13 tuổi

DHA và EPA kết hợp(mg/ngày)

70

90

120

Nguồn: Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng, Viện Y học, Viện Hàn lâm quốc gia

Viện Y tế Quốc gia(NIH) khuyến cáo mức chúng ta ăn còn cao hơn mức của DHA và EPA. Theo NIH, 30 phần trăm calo hàng ngày của chúng ta nên là DHA và EPA kết hợp. Họ cho rằng lượng ăn vào cho người lớn khỏe mạnh là 650 mg / ngày. Đối với trẻ em bảy tuổi trở lên mà có lượng calo ăn vào hàng ngày tương tự như người lớn, lượng đề nghị của DHA và EPA kết hợp là giống như người lớn. Biểu đồ dưới đây sẽ giúp bạn xác định con bạn nên ăn bao nhiêu dựa theo các các tiêu chuẩn này.

Lượng tiêu thụ đầy đủ (AI) của DHA and EPA (Dựa trên 30 % của lượng calo)

Tuồi DHA và EPA kết hợp (mg/ngày)

1-3 tuổi 390

4-6 tuổi 540

7 tuổi và hơn nữa 650

Nguồn: Viện Y tế Quốc gia (NIH)

Vì thiếu hụt DHA và EPA có liên quan đến bệnh tự kỷ, chứng khó đọc, chứng tăng động giảm tập trung chú ý, chứng giảm dùng cử động, trầm cảm, và lo lắng, nên tôi khuyên bạn nên tuân theo khuyến cáo của NIH để xác định lượng DHA và EPA mà con bạn cần. Dưới đây là một số mẹo để giúp con bạn ăn đủ mức DHA và EPA hàng ngày:

  • cho trẻ ăn các thức ăn giàu ALA

  • mua thực phẩm tăng cường chất DHA

  • chuyển sang dùng trứng được làm giàu thêm axit béo omega-3

  • cho trẻ ăn cá béo một tuần một lần

Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu hàng ngày của trẻ với DHA và EPA chỉ thông qua thức ăn là tương đối khó. Đó là chỗ cho các chất bổ sung axit béo omega-3 đi vào cơ thể.

TRÁNH NHIỄM THỦY NGÂN TRONG CÁ

Khi bổ sung cá vào chế độ ăn của con bạn (cũng như của riêng bạn), điều quan trọng là phải tính đến các vấn đề sức khỏe liên quan tới kim loại nặng xung quanh như thủy ngân và các chất ô nhiễm tan trong chất béo như polychlorinated biphenyl (PCB) và dioxin. Trong cộng đồng tự kỷ, thuỷ ngân là một kim loại nặng có mối quan tâm đặc biệt vì nó là một độc tố thần kinh gây hại cho não và hệ thần kinh của thai nhi và trẻ nhỏ. Thuỷ ngân tự nhiên có trong môi trường và cũng được thải vào không khí từ các nhà máy điện đốt than và các lò đốt rác thải đô thị và y tế. Thủy ngân đi quãng đường dài trong không khí trước khi được đọng lại vào nước như hồ, suối, và đại dương. Vi khuẩn trong các vùng nước chuyển đổi thành metyl thủy ngân. Cá hấp thụ metyl thuỷ ngân vì cá kiếm ăn trong các vùng nước này và nó tích tụ trong cá. Gần như tất cả cá và động vật vỏ cứng có chứa metyl thuỷ ngân với các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào tuổi của chúng và chúng đã ăn bao nhiêu con cá khác. Về cơ bản, cá càng lớn và sống càng lâu, thì mức thủy ngân của chúng càng cao. Khi một người phụ nữ mang thai ăn cá, người mẹ làm thai nhi đang phát triển bị phơi nhiễm với metyl thuỷ ngân, điều này đưa tới một mối đe dọa đến não đang phát triển của bào thai. Tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc, metyl thuỷ ngân có thể gây ra suy giảm trong ngôn ngữ, sự chú ý, và bộ nhớ, dáng đi và rối loạn thị giác; tác động lên phát triển thần kinh và chậm phát triển tâm thần. EPA ước tính 1.160.000 phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ở Hoa Kỳ ăn đủ cá bị nhiễm thủy ngân và đưa ra một nguy cơ có hại cho đứa trẻ tương lai của họ. Sau đây là các khuyến nghị của FDA và EPA cho việc lựa chọn và ăn cá cho những phụ nữ đang hoặc có thể trở thành bà mẹ mang thai và cho con bú:

  • Không ăn cá mập, cá kiếm, cá thu Đại Tây Dương, và tilefish (loài cá sống ở Đại

Tây Dương).

  • Ăn không quá 12 ounce một tuần nhiều loại cá và động vật có vỏ nhiễm ít thủy ngân hơn, như cá da trơn, cá hồi, cá minh thái, tôm, và cá ngừ đóng hộp.

  • Hạn chế cá ngừ “trắng” đóng hộp dưới mức 6 ounces mỗi tuần do hàm lượng thủy ngân cao.

  • Hạn chế cá ngừ nướng đến 6 ounces mỗi tuần do hàm lượng thủy ngân cao.

  • Kiểm tra tư vấn địa phương về sự an toàn của cá đánh bắt tại các hồ, suối, sông, và các khu vực ven biển ở địa phương của bạn.

  • Nếu không có tư vấn, bạn có thể ăn đến 6 ounces mỗi tuần các loại cá đánh bắt từ vùng biển địa phương, nhưng không ăn thêm cá khác trong tuần đó.

Hiện tại không có khuyến cáo về số lượng cá được coi là an toàn cho trẻ nhỏ, do đó, FDA và EPA gợi ý tương tự như khuyến cáo ở trên, nhưng với kích cỡ phần nhỏ hơn. Để có một danh sách đầy đủ của cá và động vật có vỏ và mức độ metyl thuỷ ngân trong chúng, bạn có thể truy cập vào trang web An toàn thực phẩm FDA tại www.cfsan.fda.gov hoặc gọi điện thoại miễn phí tại (888) SAFEFOOD. Bạn cũng có thể nhận được thông tin từ trang web của EPA tại www.epa.gov / ost / con.w.epa.gov/ost/fish.

CÁC BỔ XUNG AXIT BÉO OMEGA-3

Vì trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ và các rối loạn phát triển khác thường có các vấn đề cảm giác góp thêm vào vấn đề ăn, trẻ ăn rất hạn chế các loại thực phẩm, và thường từ chối cá, nên có thể không có đủ lượng axit béo omega-3 trong chế độ ăn của trẻ. Nếu bạn lo lắng về cá nhiễm thủy ngân, thậm chí bạn có thể chọn việc hạn chế hoặc loại bỏ cá khỏi chế độ ăn của gia đình bạn hoàn toàn. Trong trường hợp này, con bạn cần phải ăn một chất bổ sung axit béo omega-3 ở mức cơ bản hàng ngày.

Chất bổ sung axit béo omega-3 phổ biến nhất là từ dầu cá và thường được nhắc đến như là dầu cá bổ sung. Khi chọn một chất bổ sung dầu cá cho con bạn, hãy nhớ các hướng dẫn sau:

  • Thủy ngân và các chất ô nhiễm khác cũng có thể xuất hiện trong chất bổ sung dầu cá, vì vậy hãy đảm bảo chất bổ sung bạn chọn không chứa chất gây ô nhiễm. Tổ chức Các tiêu chuẩn dầu cá quốc tế (IFOS) là thước đo toàn diện nhất trong ngành công nghiệp dầu cá về chất lượng và độ tinh khiết.

Dầu cá có chứng nhận IFOS được chưng cất phân tử trong chân không, kết quả là hầu như không có chất gây ô nhiễm.

  • Hãy tìm những con dấu USP hoặc NSF trên nhãn sản phẩm để đảm bảo rằng sản phẩm đã qua kiểm tra chất lượng. Bạn cũng có thể kiểm tra trang web Phòng thí nghiệm cho người tiêu dùng tại www.consumerlab.com.

• Cũng như các chất bổ sung vitamin tổng hợp và khoáng chất, có những chất bổ sung dầu cá chất lượng tuyệt hảo trên thị trường không có con dấu USP hoặc NSF trên nhãn sản phẩm. Các nhà sản xuất có thể chọn để chất bổ sung họ sản xuất ra được kiểm tra bởi một phòng thí nghiệm độc lập bên ngoài để để chứng thực là các chất bổ sung không chứa các chất gây ô nhiễm. Nếu bạn quyết định mua một sản phẩm, hãy chắc rằng nó được sản xuất bởi một công ty nổi tiếng và có uy tín, như là Nordic Naturals. Họ cung cấp một sản phẩm dầu gan cá tuyết gọi là DHA Junior mà trẻ em chấp nhận được tốt. Nó có vị dâu tây và chứa trong một viên nang gel mềm rất nhỏ, rất dễ dàng cho một đứa trẻ nuốt hoặc nhai. Coromega là một chất bổ sung dầu cá khác được nhiều trẻ em chấp nhận. Nó là loại bánh có vị cam tự nhiên có thể ăn trực tiếp từ gói hoặc thêm vào thực phẩm khác mà con bạn thích. Coromega cũng rất tuyệt vời cho trẻ em vì nó không có mùi, mùi vị, hoặc dư vị cá. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập trang web của Coromega tại www.coromega.com. Cả Junior DHA và Coromega đều được Kirkman phân phối, do đó, bạn cũng có thể vào trang web của họ (www.kirkmangroup.com) để có thông tin về các sản phẩm này.

•Theo quy luật chung, dầu gan cá tuyết lỏng có hương vị tự nhiên là lựa chọn tốt dành cho trẻ vì bạn chỉ cần phải thêm một lượng nhỏ và nó có thể dễ dàng giấu trong thức ăn mềm hoặc đồ uống mà con bạn ăn uống.

Chất bổ sung dầu cá thân thiện với trẻ em

Chất bổ sung Cỡ phần cho trẻ DHA và EPA (mg)

dầu gan cá tuyết, được ướp hương 1/2 thìa cà-phê 500

Coromega (nguyên bản) 1 gói 580

DHA Junior

4 viên gel mềm 207

QUÁ NHIỀU THỨ TỐT?

Bạn có thể cho con ăn quá nhiều axit béo omega-3. Có thể xảy ra các rủi ro sức khỏe nếu trẻ tiêu thụ hơn 3 gram (3.000 mg) axit béo omega-3 mỗi ngày. Theo Trung tâm An toàn thực phẩm và Ứng dụng dinh dưỡng của FDA, quá nhiều EPA và DHA có thể làm cho bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ bị giảm kiểm soát đường huyết, gây ra đột quỵ xuất huyết khi dùng với liều lượng rất lớn gọi là ” lượng Eskimo,” ngăn chặn phản ứng miễn dịch và phản ứng viêm nhiễm, và gây chảy máu nếu cá thể cũng đang dùng aspirin hoặc thuốc Coumadin (chất chống đông máu).

Bạn có thể nhớ lại từ đầu của chương này là tỷ lệ lượng axit béo omega-3 và axit béo omega-6 tương đối với nhau là quan trọng đối với sức khỏe và phát triển của bộ não và cơ thể. Khi bạn tăng lượng axit béo omega-3 trong cơ thể con bạn, điều quan trọng là bạn cũng làm giảm lượng ăn vào các loại thực phẩm chứa nhiều axit béo omega-6 của trẻ. Thực phẩm giàu axit béo omega-6 bao gồm các loại thịt gia súc nuôi bằng ngũ cốc, dầu thực vật lỏng (như dầu đậu tương, dầu hướng dương, dầu cây rum, dầu bắp), và hầu hết được đóng gói sẵn và được chế biến nhiều, thuận tiện. Ăn quá nhiều axit béo omega-6 đi kèm với vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như đau tim, đột quỵ, loạn nhịp tim, viêm khớp, loãng xương, viêm nhiễm, rối loạn tâm trạng, và bệnh ung thư. Axit béo omega-6 arachidonic acid (ARA) được chuyển thành tác nhân tiền gây viêm gọi là eicosanoids, có tác động tiêu cực đến cơ thể. (axit béo Omega-3 cũng chuyển đổi sang eiscosanoids, nhưng hiệu ứng của chúng là chống viêm nhiễm hơn là gây viêm.) Quá nhiều axit béo omega-6 trong chế độ ăn của chúng ta sẽ cùng cạnh tranh một loại enzyme (delta-6 desaturase) cần thiết để chuyển đổi ALA tới EPA và DHA, sẽ làm tăng nguy cơ thiếu hụt axit béo omega-3 của chúng ta. Sự thiếu hụt axit béo omega -6 rất hiếm gặp ở Hoa Kỳ. Trong thực tế, chúng ta có xu hướng tiêu thụ quá nhiều axit béo omega-6 vì nhiều người trong chúng ta ăn một lượng lớn thịt gia súc nuôi bằng ngũ cốc và dầu thực vật. Khi bạn tăng lượng axit béo omega-3 trong chế độ ăn của con bạn, hãy cố gắng để cắt giảm thực phẩm giàu axit béo omega-6 để đạt được tỷ lệ lý tưởng omega-6/omega-3 là 4-1.

DỰ ÁN NO. 4: TĂNG LƯỢNG ĂN VÀO AXIT BÉO OMEGA-3 CHO CON BẠN

  1. Ghi chép lại tất cả mọi thứ con bạn ăn và uống trong bảy ngày.

  2. Xác định xem con của bạn đã ăn đầy đủ DHA và EPA chưa bằng cách cộng tổng số milligram (mg) DHA và EPA kết hợp mà con bạn ăn trong bảy ngày và chia cho bảy để có trung bình hàng ngày. So sánh lượng DHA và EPA kết hợp ăn vào của con bạn với các khuyến nghị của Ban Thực phẩm và Dinh dưỡng hoặc NIH trên trang 56. Nếu con của bạn thiếu, đầu tiên hãy thử tăng lượng DHA và EPA thông qua các nguồn thực phẩm.

Nếu vẫn không được, hãy thêm một chất bổ sung axit béo omega-3 để tạo nên sự khác biệt.

Xin chúc mừng! Bây giờ bạn đã thúc đẩy chế độ ăn của trẻ với lượng thích hợp của các axit béo omega-3, bạn đã hoàn thành bốn bước cơ bản đầu tiên của chương trình này. Bạn đã sẵn sàng để chuyển tới các can thiệp dinh dưỡng nâng cao. Bước 5 sẽ cho bạn thấy làm thế nào để khắc phục các vấn đề cho ăn đi kèm với vấn đề người ăn.


Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà gửi tới phụ huynh cũng như  các thầy cô giáo cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ
Cuốn sách Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ sẽ chỉ cho bạn cách để làm giảm bớt cho con bạn khỏi những gánh nặng về dinh dưỡng. Bạn sẽ thấy rằng mỗi vấn đề dinh dưỡng của con bạn sẽ được xử lý và giải quyết, sức khỏe và hành vi của trẻ sẽ cải thiện.
Nguồn:
Người dịch: Cảm ơn CLB Gia đình trẻ Tự kỷ Hà Nội đã dịch và chia sẻ cuốn sách này tới cộng đồng
Tổ chức đã post cuốn sách này: sachtuky.com

Bình luận

bình luận

Ăn uống với người mắc chứng tự kỷ Phần 5
Đánh giá bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*