Giới thiệu 3 bản dịch DSM 5 (2013) – Tiếng Việt về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ



Daytretukytainha.vn – Hỗ Trợ Phụ Huynh Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà

Nguồn: Danang Ho (phụ huynh)


Giới thiệu 3 bản dịch DSM 5 (2013) – Tiếng Việt về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ

Các bản dịch của Trinh Foundation và Giáo Sư Trần Văn Công rất hay, rất chuyên nghiệp, nhưng chỉ dành cho giới bác sỹ, chuyên gia, vô cùng khó hiểu đối với đại đa số phụ huynh thuộc tầng lớp lao động nghèo trong xã hội..

Điều đáng nói nhất về nguyên bản DSM 5 và cả bản dịch tiếng Việt của Trinh Foundation và GS Trần văn Công chính là không có sự hướng dẫn rõ ràng về cách sử dụng – Khuyết điểm nầy cũng giống như đưa một món đồ chơi điện tử cao cấp vào thị trường mà không kèm theo lời hướng dẫn, rất dễ gây nên sự chẩn đoán bát nháo, khiến các nhà chuyên môn mắc thêm nhiều lỗi tội đối với phụ huynh và con em tự kỷ. Ví dụ: Trẻ tự kỷ phải hội đủ những tiêu chuẩn nào trong nhóm A,B,C,D? Vì sao trẻ có chẩn đoán rối loạn ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội (SCD) thay vì rối loạn phổ tự kỷ (ASD)?

Các bạn xa gần nên đọc 3 bản dịch DSM 5 tiếng Việt sau đây (nên nhớ, những gì đã tự đăng trên mạng có nghĩa là mọi người có quyền sử dụng):

Bản dịch thứ nhất, rất đơn giản, dễ hiểu và có lời giải thích của Danang Ho …

Ở Mỹ, sau tháng 5, 2013, nhiều dạng tự kỷ xuất hiện trước đây trong cuốn Cẩm Nang Thống Kê & Chẩn Bệnh Tâm Thần, hiệu đính lần thứ tư, (Diagnostic and Statistical Manual Disorders – DSM-IV), đã chính thức bị xóa sổ.

Theo qui định mới của DSM 5, Rối Loạn Tự Kỷ (Autistic Disorder), tự kỷ dạng Asperger (Asperger’s Disorder), dạng PPD-NOS (rối loạn phát triển lan tỏa – không phân định rõ) được kết hợp dưới một chiếc dù lớn, gọi là Rối Loạn Phổ Tự Kỷ (Autistic Spectrum Disorder), với dịch vụ hỗ trợ chia thành bậc 1 (level one), bậc 2 (level 2), bậc 3 (level 3), dựa vào mức độ nặng nhẹ.

Riêng các dạng tự kỷ khác, chẳng hạn Rối Loạn Tự Kỷ Thoái Hóa (Heller’s syndrome), Rối Loạn Rett (Rett’s Disorder), được xem là những hội chứng có liên quan đến những vấn đề y tế cần được sự thẩm định và chăm sóc đặc biệt khác.

Rối Loạn Phổ Tự Kỷ (Autism Spectrum Disorder) – 299.00 (F84.0)

Theo DSM 5, trẻ có chẩn đoán bị Rối Loạn Phổ Tự Kỷ phải thỏa mãn những điều kiện qui định trong 4 nhóm A, B, C, D.

Nhóm A: Khiếm khuyết về kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội. Trẻ ASD phải hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn dưới đây:

1) Trẻ biểu hiện sự vô cảm, không biết rung động, chia sẻ tình cảm, sở thích của mình với người khác, không thể bắt chuyện, nhập chuyện, và cách đối đáp trong giao tiếp xã hội rất khác thường.

2) Trẻ có những khiếm khuyết về sự bày tỏ cử chỉ, hành vi, dùng lời và không dùng lời, qua sự giao tiếp bằng mắt, không thể hiểu và diễn đạt bằng điệu bộ, hoặc bày tỏ cảm xúc trên nét mặt.

3) Trẻ gặp nhiều khó khăn trong vấn đề kết bạn và duy trì tình bạn, ngoại trừ cha mẹ và những người chăm sóc khác, không thể thay đổi hành vi theo sự đòi hỏi của mọi người trong những nơi chốn khác nhau, thiếu khả năng chơi giả vờ, và không có hứng thú sinh hoạt chung theo nhóm.

Nhóm B: Những giới hạn, lặp lại, rập khuôn về hành vi, sở thích, và hoạt động. Trẻ ASD phải hội đủ tối thiểu 2 trong 4 tiêu chuẩn dưới đây:

1) Trẻ nói lặp lại. Hoạt động tay chân hay sử dụng đồ vật theo lối rập khuôn.

2) Trẻ khăng khăng muốn giữ nguyên nề nếp, thói quen, thường chống lại sự đổi thay trong môi trường sinh hoạt hằng ngày.

3) Trẻ bị cuốn hút vào những sở thích khác thường, chẳng hạn thích sưu tầm những chủ đề về thời tiết, lịch trình xe buýt, tạp chí, v.v…

4) Phản ứng mạnh hay thiếu phản ứng đối với những tác động thuộc về giác quan. Ví dụ, trẻ không cảm nhận được nhiệt độ lạnh hay nóng, không có cảm giác đau đớn khi ngã té, trầy trụa đến chảy máu, nhạy cảm đối với âm thanh, vải sợi, ngửi và sờ chạm vật thể nào đó quá mức bình thường, hoặc có những hành vi tự kích như quay vòng đồ chơi, mê mẫn nhìn đèn điện, quạt xoay trên trần nhà.

Ghi chú (người viết):

Những tiêu chuẩn 1,2,3,4 trong nhóm B của DSM -5 nêu trên được áp dụng để chẩn đoán và phân định sự khác biệt giữa Rối Loạn Phổ Tự Kỷ (ASD) và dạng Rối Loạn Ngôn Ngữ trong Giao Tiếp Xã Hội (Social ‘Pragmatic’ Communication Disorder or SCD). Tiêu chuẩn hay tiêu chí số 4 trong nhóm B về rối loạn cảm giác chưa từng có trong ấn bản cũ (DSM-IV). Nếu trẻ hội đủ 3 tiêu chuẩn của nhóm A nhưng không có những giới hạn, lặp lại, rập khuôn về hành vi, sở thích, và hoạt động thuộc nhóm B thì không phải là tự kỷ, và nên xếp vào dạng SCD (Social Communication ‘Pracmatic’ Disorder).

Nhóm C: Những khiếm khuyết hay những triệu chứng trên phải biểu hiện lúc trẻ còn nhỏ tuổi, có thể chưa lộ rõ cho đến khi sự đòi hỏi của xã hội vượt xa so với khả năng hạn chế của trẻ.

Nhóm D: Những triệu chứng nêu trên có ảnh hưởng đối nghịch và giới hạn khả năng sinh hoạt hằng ngày của trẻ.

Nhóm E: Những triệu chứng nêu trên không thể giải thích được bởi khuyết tật trí tuệ hay vấn đề chậm phát triển của trẻ. Rối Loạn Phổ Tự Kỷ thường đi đôi với khuyết tật trí tuệ. Trong trường hợp có sự chẩn đoán nầy (comorbid conditions), khả năng giao tiếp xã hội của trẻ phải ở dưới mức trung bình so với những trẻ có sự phát triển ngôn ngữ bình thường và đúng theo độ tuổi.

Những chuyên gia, bác sĩ chẩn đoán tự kỷ cần nêu rõ –

– Trẻ ASD có bị khuyết tật trí tuệ (intellectual disability) hay không?
– Trẻ ASD có đi kèm với khiếm khuyết ngôn ngữ (language impairment) hay không?
– Trẻ ASD cần sự chăm sóc về y tế, hoặc bệnh có tính di truyền hay do yếu tố môi trường gây nên?
– Trẻ ASD có đi kèm với những bệnh tâm thần khác (catatonia) hay không, chẳng hạn chứng tăng động giảm chú ý (ADHD), tâm thần phân liệt (schizophrenia), rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder)?

APA cảnh báo:

Những cá nhân đã có sự chẩn đoán bị rối loạn tự kỷ, rối loạn Asperger, hay rối loạn lan tỏa – không phân biệt rõ (PDD – NOS), dựa vào ấn bản cũ (DSM-IV), phải được xếp chung vào Rối Loạn Phổ Tự Kỷ (ASD) trong ấn bản mới (DSM 5). Riêng những cá nhân có những khiếm khuyết nghiêm trọng về ngôn ngữ, nhưng không hội đủ tiêu chuẩn tự kỷ trong DSM 5, sẽ được thẩm định lại để xếp vào dạng Rối Loạn Ngôn Ngữ trong Giao Tiếp Xã Hội (SCD).

Rối Loạn Phổ Tự Kỷ và 3 Bậc Thang Hỗ Trợ (severity levels) trong DSM 5

Bậc 3 (Level 3): Đòi hỏi sự hỗ trợ tối đa.

Trẻ ASD có những khiếm khuyết nghiêm trọng về kỹ năng giao tiếp xã hội bằng lời và không bằng lời, không có khả năng đối đáp nhằm tạo nên sự thân mật trong quan hệ xã hội, dễ bị cuốn hút bởi những chủ đề hay hoạt động nào đó, chỉ muốn thỏa mãn nhu cầu cá biệt và không quan tâm đến cảm xúc của người đối thoại, thường có những hành vi lặp lại, cử chỉ vụng về, thích duy trì nề nếp, thói quen, luôn chống đối những đổi thay trong đời sống.

Bậc 2 (Level 2): Đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực.

Trẻ ASD biểu hiện rõ những khiếm khuyết về giao tiếp xã hội bằng lời và không bằng lời, cho dù đang được cung cấp những dịch vụ trị liệu. Trẻ ASD nhập chuyện hay đáp ứng bất thường, tỏ ra không hứng thú đối với sự quan tâm, thân mật của những người chung quanh. Ngoài ra, những giới hạn, lặp đi lặp lại, rập khuôn về hành vi, sở thích và hoạt động của trẻ ASD rất dễ nhận biết bởi người thường. Trẻ ASD dễ điên tiết khi mọi điều quen thuộc bị xáo trộn, và rất khó cho người chăm sóc điều chỉnh hay hướng dẫn trẻ trở lại công việc mong muốn một khi trẻ bị lôi cuốn bởi vật thể, sở thích, hay chủ đề nào đó.

Bậc 1 (Level 1): Đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết.

Nếu không có dịch vụ trợ giúp thì khiếm khuyết về giao tiếp xã hội của trẻ ASD sẽ biểu lộ rõ nét theo thời gian. Trẻ ASD thường gặp nhiều khó khăn khi bắt chuyện hay đối đáp trong giao tiếp; mức độ quan tâm, gần gũi với mọi người ngày càng giảm thiểu; sự rập khuôn về hành vi, sở thích, hoạt động có ảnh hưởng nghiêm trọng và đối nghịch về mọi mặt trong đời sống của trẻ.

Nguồn:

– DSM 5 (2013)
– Facebook Tự Kỷ (2016) – H. Tịnh.

Rối Loạn Ngôn Ngữ trong Giao Tiếp Xã Hội
(Social ‘Pragmatic’ Communication Disorder)

Trong cẩm nang DSM 5 (2013), Hiệp Hội Tâm Thần Học ở Mỹ (APA) có đề xuất một dạng khuyết tật mới, đó là rối loạn ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội (Social Communication Disorder), viết tắt SCD.

Vì sao phải có thêm dạng rối loạn ngôn ngữ trong DSM 5?

Những chuyên gia soạn thảo DSM 5 cho rằng sự ra đời của dạng bệnh rối loạn ngôn ngữ nầy là điều cần thiết, bởi vì những cẩm nang chẩn bệnh tâm thần trước đây đã không cung cấp đầy đủ những tiêu chuẩn chẩn đoán thích hợp cho trẻ em có những khiếm khuyết về rối loạn ngôn ngữ, và vì vậy, sự trị liệu qua các dịch vụ hỗ trợ ở các trung tâm thường không đem lại những kết quả tốt đẹp như mong muốn.

Rối loạn ngôn ngữ (SCD) là gì?

Rối loạn ngôn ngữ là những khiếm khuyết về khả năng sử dụng từ ngữ trong giao tiếp xã hội (an impairment of pragmatics). Dạng nầy được chẩn đoán dựa vào sự khó khăn của trẻ về ngôn ngữ, bằng lời hoặc không bằng lời, khi nói chuyện với người khác trong những bối cảnh hay môi trường tự nhiên (naturalistic contexts).

Rối loạn ngôn ngữ của trẻ có tác động tiêu cực đối với sự phát triển quan hệ xã hội, bao gồm những giới hạn về khả năng duy trì chủ đề đối thoại, chờ đợi lượt phát biểu, về sự thích nghi và uyển chuyển qua lời nói để ý nghĩa truyền đạt phù hợp với người nghe trong những tình huống giao tiếp xã hội khác nhau.

Chẩn đoán rối loạn ngôn ngữ của các chuyên gia, bác sĩ ở Mỹ

Rối loạn ngôn ngữ (SCD) không thuộc vào rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Muốn thẩm định SCD, các chuyên gia, bác sĩ phải dựa vào những tiêu chuẩn trong DSM 5, ấn bản mới, để phân định sự khác biệt giữa rối loạn ngôn ngữ và rối loạn phổ tự kỷ.

Một đứa trẻ hội đủ tiêu chuẩn SCD thì cái mác ASD phải bị gạt bỏ (to be ruled out), nếu trẻ không có những biểu hiện tối thiểu 2 trong số 4 tiêu chuẩn của ASD thuộc nhóm (B) về những giới hạn, lặp đi, lặp lại, rập khuôn về sở thích, hành vi, hoạt động, về sự tự kích (stimming or self stimulation behavior), và phản ứng bất thường của cảm giác (sensory abnormalities).

Rối loạn ngôn ngữ không thể giải thích dựa vào khả năng hạn chế về cách kết cấu từ ngữ, văn phạm, hay khả năng tổng quát về trí tuệ. Tuy nhiên, trẻ có chẩn đoán rối loạn ngôn ngữ phải thể hiện những khiếm khuyết ngay từ thuở ấu thơ, hoặc chưa biểu hiện rõ nét cho đến khi sự đòi hỏi của xã hội vượt xa so với hiệu năng ngôn ngữ của trẻ trong chặng tuổi nào đó.

Mặc dù rối loạn ngôn ngữ không thuộc nhóm rối loạn tự kỷ, trẻ thuộc dạng SCD có thể bị những những khuyết tật khác đi kèm (co-morbid conditions), ví dụ, khuyết tật về mặt học tập nào đó (specific learning disabilities), tăng động giảm chú ý (ADHD), hay khuyết tật trí tuệ (intellectual disability).

Phương pháp trị liệu trẻ bị rối loạn ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội

Ở Mỹ, rối loạn ngôn ngữ là dạng khuyết tật mới được công nhận trong DSM 5. Do đó, nhiều chuyên gia, bác sĩ vẫn còn mù mờ và chưa thể thống nhất với nhau về cách thức can thiệp cho các em có chẩn đoán thuộc dạng nầy. Hiện tại, phụ huynh chỉ biết trông cậy vào vai trò trị liệu tích cực của các chuyên viên về nói và ngôn ngữ (speech language pathologists), vào phưong pháp cải biến hành vi ABA, hoặc giáo dục trẻ theo mô hình Denver trong chương trình can thiệp sớm (Early Start Denver Model).

Tác động của DSM 5 đối với dạng rối loạn ngôn ngữ sau tháng 5, 2013

Autism Speaks, một hiệp hội bênh vực tự kỷ ở Hoa Kỳ, phỏng đoán chừng 14% đến 22% trẻ có chẩn đoán bị rối loạn phát triển lan tỏa – không phân định rõ (PDD – NOS), dựa vào ấn bản DSM – IV, sẽ không hội đủ điều kiện để ghép vào Rối Loạn Phổ Tự Kỷ (ASD), nếu các chuyên gia, bác sĩ áp dụng tiêu chuẩn mới trong DSM 5 (2013).

Gần đây, Autism Speaks đã nhận được nhiều điện thư của phụ huynh cho biết rằng con em bị chứng rối loạn tự kỷ dạng nhẹ (PDD-NOS) hoặc hội chứng Asperger đã mất đi nhiều dịch vụ hỗ trợ sau khi sự chẩn đoán tự kỷ dựa vào DSM – IV trước đây bắt đầu chuyển đổi thành rối loạn ngôn ngữ (SCD) theo tiêu chuẩn mới của DSM 5. Điều nầy rõ là một nghịch lý. Vì sao?

Trước khi xuất bản cẩm nang mới, Hiệp Hội Tâm Thần Học ở Mỹ đã cam đoan và khẳng định rằng trẻ thuộc hội chứng tự kỷ, bao gồm rối loạn tự kỷ, Asperger, rối loạn phát triển lan tỏa – không phân định rõ, dựa vào ấn bản cũ (DSM-IV), sẽ được duy trì theo tình trạng cũ với tên gọi mới là rối loạn phổ tự kỷ (ASD), và dịch vụ hỗ trợ không thể bị cắt xén hay ngưng trệ vì sự ứng dụng cẩm nang DSM 5 (2013).

Hiện tại, những tổ chức bênh vực người khuyết tật ở Hoa Kỳ đang theo dõi tác động của cẩm nang mới đối với dạng rối loạn ngôn ngữ và các dạng bệnh tâm thần khác. Có lẽ, các chuyên gia trong ngành phải mất một thời gian khá lâu để thâu thập đầy đủ dữ kiện về những ưu và khuyết điểm của DSM 5.

Nguồn:

– DSM 5

– Facebook Tự Kỷ (2016) – H. Tịnh.

*

Bản dịch DSM 5 tiếng Việt – Trinh Foundation

DSM-5 Tiêu chí chẩn đoán tự kỷ

Kể từ tháng 05 năm 2013, các nhà tâm lý và nhà tâm thần học sẽ sử dụng những tiêu chí này khi đánh giá các cá nhân để chẩn đoán những rối loạn xảy ra trong thời kỳ phát triển như trên.

Rối loạn giao tiếp xã hội (Ngữ dụng) 315.39 (F80.89)

Tiêu chí chẩn đoán

A. Những khó khăn dai dẳng trong việc sử dụng giao tiếp xã hội bằng lời và không lời, với các biểu hiện như sau:

1. Thiếu hụt khả năng sử dụng giao tiếp nhằm mục đích xã giao, chẳng hạn như chào hỏi và chia sẻ thông tin, theo một phương thức phù hợp với ngữ cảnh xã giao.
2. Suy giảm khả năng thay đổi cách giao tiếp cho phù hợp với ngữ cảnh hoặc nhu cầu của người nghe, chẳng hạn như có cách nói chuyện khác khi ở trong lớp học so với khi ở ngoài sân chơi, có cách nói chuyện khác khi nói chuyện với một em bé so với khi nói chuyện với một người lớn, và tránh sử dụng những ngôn ngữ quá trịnh trọng.
3. Gặp khó khăn trong việc tuân theo những quy định của hội thoại và kể chuyện, chẳng hạn như sự luân phiên trong hội thoại, nói lại hoặc lặp lại ý khi có sự hiểu nhầm, và biết cách sử dụng những tín hiệu bằng lời và không lời để điều chỉnh sự tương tác cho phù hợp.
4. Gặp khó khăn trong việc hiểu những gì không được nói thẳng (vd: thiếu khả năng suy diễn) cũng như việc hiểu nghĩa bóng hoặc những ý nghĩa ngôn ngữ chưa rõ ràng (vd: thành ngữ, câu nói đùa, ẩn dụ, những câu có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh).

B. Những thiếu hụt này dẫn đến hậu quả là sự giao tiếp hiệu quả, sự tham gia vào xã hội, những mối quan hệ xã hội, thành tích học tập, hoặc hiệu quả/biểu hiện trong công việc bị hạn chế về mặt chức năng. Sự ảnh hưởng có thể thấy được trên một lĩnh vực riêng lẻ hoặc kết hợp trên nhiều lĩnh vực.

C. Thời điểm bắt đầu có triệu chứng là vào giai đoạn phát triển sớm (nhưng những thiếu hụt kể trên có thể không hoàn toàn biểu hiện ra cho đến khi nhu cầu giao tiếp xã hội vượt quá khả năng của những cá nhân này).

D. Những triệu chứng này không thể quy cho những tình trạng/bệnh lý y khoa hoặc thần kinh khác, và cũng không thể quy cho việc những cá nhân này có khả năng về cấu trúc từ hoặc ngữ pháp thấp, đồng thời những triệu chứng này cũng không được giải thích tốt hơn khi quy vào rối loạn phổ tự kỷ, thiểu năng trí tuệ (rối loạn phát triển trí tuệ), chậm phát triển tổng thể, hoặc một chứng rối loạn tâm thần khác.

Rối loạn phổ tự kỷ 299.00 (F84.0)

Tiêu chí chẩn đoán

A. Những thiếu hụt dai dẳng trong khả năng giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều tình huống/bối cảnh khác nhau, với những biểu hiện như sau, hiện tại đang biểu hiện hay trước đây đã biểu hiện (những ví dụ chỉ mang tính minh họa, không bao hàm hết tất cả mọi khía cạnh, hãy xem văn bản):

1. Thiếu hụt khả năng trao đổi qua lại về xã giao-cảm xúc, ví dụ trong phạm vi từ cách tiếp cận xã giao bất thường và thất bại trong việc hội thoại qua lại bình thường; đến giảm sự chia sẻ hứng thú, tình cảm, hoặc cảm xúc; đến thất bại trong việc khởi xướng hoặc phản ứng lại với sự tương tác xã hội.
2. Thiếu hụt những hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tương tác xã hội, ví dụ trong phạm vi từ khả năng phối hợp giao tiếp bằng lời và không lời nghèo nàn; đến sự bất thường trong giao tiếp mắt và ngôn ngữ cơ thể hoặc thiếu hụt khả năng hiểu và sử dụng cử chỉ; đến sự thiếu vắng hoàn toàn của biểu hiện nét mặt và giao tiếp không lời.
3. Thiếu hụt khả năng xây dựng, duy trì và hiểu được các mối quan hệ, ví dụ trong phạm vi từ khó khăn trong việc điều chỉnh hành vi cho phù hợp với những ngữ cảnh xã giao khác nhau; đến khó khăn trong việc chơi tưởng tượng hoặc kết bạn với người khác; đến việc không quan tâm đến các bạn đồng trang lứa.

Chỉ rõ về mức độ nghiêm trọng hiện tại:

Mức độ nghiêm trọng được xác định dựa trên sự suy giảm trong giao tiếp xã hội và những kiểu mẫu hành vi lặp đi lặp lại hoặc bị hạn chế (xem Bảng 2).

B. Những kiểu mẫu hành vi, hứng thú hoặc hoạt động lặp đi lặp lại hay bị hạn chế, với ít nhất hai biểu hiện như sau, hiện tại đang biểu hiện hay trước đây đã biểu hiện (những ví dụ chỉ mang tính minh họa, không bao hàm hết tất cả mọi khía cạnh, hãy xem văn bản):

1. Những động tác vận động, cách sử dụng đồ vật hay lời nói rập khuôn hoặc lặp đi lặp lại (vd: những cử động đơn giản rập khuôn, xếp đồ chơi thành hàng hoặc vẫy vẫy đồ vật, lặp lại một cách máy móc lời nói của người khác, những cụm từ bất thường).
2. Khăng khăng yêu cầu những thứ giống nhau, thiếu sự linh động và chỉ muốn làm theo thường quy, hoặc những kiểu mẫu hành vi bằng lời hoặc không lời đã trở thành thói quen (vd: lo lắng/căng thẳng tột độ với những thay đổi nhỏ, gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi, lối suy nghĩ, cách chào hỏi cứng nhắc, cần phải làm cùng một việc, đi cùng một con đường hoặc ăn cùng một món ăn mỗi ngày).
3. Những hứng thú rất hạn chế, gắn bó với một thứ gì đó một cách bất thường về cường độ hoặc sự tập trung (vd: có sự gắn kết chặt chẽ hoặc quan tâm quá mức đối với một đồ vật khác thường nào đó, bị hạn chế quá mức hoặc có hứng thú dai dẳng).
4. Tăng phản ứng hoặc giảm phản ứng với các tiếp nhận giác quan hoặc có hứng thú bất thường với những khía cạnh cảm giác/giác quan trong môi trường (vd: thấy rõ được sự hờ hững với cảm giác đau hoặc với nhiệt độ, phản ứng khó chịu với những âm thanh hoặc kết cấu nhất định nào đó, ngửi hoặc sờ chạm đồ vật quá mức, thích mê nhìn theo những ánh đèn hoặc chuyển động).

C. Những triệu chứng cần phải xuất hiện trong giai đoạn phát triển sớm (nhưng có thể sẽ không biểu hiện hoàn toàn cho đến khi nhu cầu xã hội vượt quá khả năng có hạn của những cá nhân này, hoặc chúng có thể bị che giấu đi bằng các chiến lược mà những cá nhân này đã học được trong quá trình sống).

D. Các triệu chứng gây ra sự suy giảm có ý nghĩa lâm sàng đối với hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc những lĩnh vực hoạt động quan trọng khác trong hiện tại.

E. Những rối loạn này không được giải thích tốt hơn khi quy chúng vào thiểu năng trí tuệ (rối loạn phát triển trí tuệ) hay chậm phát triển tổng thể. Thiểu năng trí tuệ và rối loạn phổ tự kỷ thường xuất hiện chung với nhau; để chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ và thiểu năng trí tuệ đi chung với nhau, kỹ năng giao tiếp xã hội thông thường sẽ ở cấp độ thấp hơn cấp độ được kỳ vọng đối với sự phát triển chung.

Ghi chú: Những cá nhân được chẩn đoán bằng tiêu chí được thiết lập lâu năm DSM-IV, với chẩn đoán là bị rối loạn tự kỷ, rối loạn Asperger, hoặc rối loạn phát triển lan tỏa, nếu không được chỉ định bị những vấn đề khác, thì nên được chẩn đoán thành rối loạn phổ tự kỷ. Những cá nhân có những thiếu hụt rõ ràng trong khả năng giao tiếp xã hội, nhưng ngoài yếu tố này ra lại không có những triệu chứng khác phù hợp với tiêu chí chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, thì nên được đánh giá là bị rối loạn giao tiếp xã hội (ngữ dụng).

Hãy chỉ rõ nếu:

Có hay không có đi kèm với suy giảm trí tuệ
Có hay không có đi kèm với suy giảm ngôn ngữ
Đi kèm với một tình trạng/bệnh lý y khoa hoặc di truyền được biết đến hoặc yếu tố môi trường

(Ghi chú về mã: Sử dụng mã phụ để xác định tình trạng/bệnh lý y khoa hoặc di truyền kèm theo.)

Đi kèm với một rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần hoặc hành vi khác
(Ghi chú về mã: Sử dụng một hoặc nhiều mã phụ để xác định rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần hoặc hành vi đi kèm.)
Đối với chứng rối loạn tâm lý – catatonia (tham khảo những tiêu chí cho chứng rối loạn tâm lý – catatonia đi kèm với một rối loạn tâm thần khác, trang 119-120, để biết định nghĩa) (Ghi chú về mã: Sử dụng mã phụ 293.89 [F06.1] cho chứng rối loạn tâm lý – catatonia đi kèm với rối loạn phổ tự kỷ để cho biết sự hiện diện của bệnh lý kèm theo chứng rối loạn tâm lý – catatonia.)

Bảng 2 Các cấp độ nghiêm trọng của rối loạn phổ tự kỷ

Câp độ nghiêm trọng

Giao tiếp xã hội

Hành vi bị hạn chế hoặc lặp đi lặp lại

Cấp độ 3 “Cần sự hỗ trợ rất nhiều”

Những thiếu hụt nghiêm trọng trong kỹ năng giao tiếp xã hội bằng lời và không lời dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng trong hoạt động, sự khởi xướng tương tác xã hội rất hạn chế, và rất ít khi phản ứng lại sự giao tiếp/làm thân xã giao của người khác. Ví dụ: một cá nhân có số lượng từ mà người khác có thể hiểu được rất ít, và cá nhân này ít khi khởi xướng sự tương tác với người khác, và nếu có, thì cá nhân này có cách tiếp cận người khác bất thường và chỉ tiếp cận họ để đạt được nhu cầu của bản thân, và chỉ phản ứng lại với cách tiếp cận xã giao rất trực tiếp.

Không có sự linh động về hành vi, gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với sự thay đổi, hoặc có những hành vi bị hạn chế/lặp đi lặp lại khác gây ảnh hưởng rõ ràng đến hoạt động ở tất cả các lĩnh vực. Gặp rất nhiều khó khăn hoặc lo lắng/căng thẳng rất nhiều khi phải chuyển đổi sự tập trung hoặc chuyển đổi hoạt động.

Cấp độ 2 “Cần sự hỗ trợ đáng kể”

Thiếu hụt rõ ràng trong kỹ năng giao tiếp xã hội bằng lời và không lời; sự suy giảm xã hội vẫn được thấy rõ ngay cả khi đã có sự hỗ trợ; sự khởi xướng tương tác xã hội bị hạn chế; và giảm phản ứng với sự giao tiếp/làm thân xã giao của người khác hoặc phản ứng không bình thường. Ví dụ: một cá nhân nói được một số câu đơn giản, sự tương tác bị giới hạn trong một số hứng thú hẹp nhất định mà thôi, và cá nhân này có sự giao tiếp không lời khác rõ ràng so với người bình thường.

Không có sự linh động về hành vi, gặp khó khăn khi phải đối phó với sự thay đổi, hoặc có những hành vi bị hạn chế/lặp đi lặp lại khác xuất hiện thường xuyên đủ để một người quan sát bình thường có thể thấy được, và những hành vi này ảnh hưởng đến hoạt động trong những tình huống/bối cảnh khác nhau. Lo lắng/căng thẳng và/hoặc gặp khó khăn khi phải chuyển đổi sự tập trung hoặc chuyển đổi hoạt động.

Cấp độ 1 “Cần sự hỗ trợ”

Khi không có sự hỗ trợ, những thiếu hụt trong giao tiếp xã hội gây ra sự suy giảm có thể thấy rõ. Gặp khó khăn khởi xướng sự tương tác xã hội, và cho thấy được những ví dụ rõ ràng về phản ứng không bình thường hoặc phản ứng không thành công với sự giao tiếp/làm thân xã giao của người khác. Có thể có biểu hiện giảm hứng thú với tương tác xã hội. Ví dụ: một cá nhân có thể nói được những câu hoàn chỉnh và có tập trung tham gia vào việc giao tiếp, nhưng sự hội thoại qua lại với người khác lại thất bại, và những cách thức, nỗ lực của cá nhân này để làm bạn với người khác thì khác thường và thường không thành công.

Việc không có sự linh động về hành vi gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động trong một hoặc nhiều tình huống/bối cảnh. Gặp khó khăn trong việc chuyển đổi giữa những hoạt động khác nhau. Những vấn đề trong việc sắp xếp, tổ chức và lập kế hoạch gây cản trở tính độc lập của những cá nhân này.

Nguồn:

Trinh Foundation

Bác Sỹ Hoàng Oanh – https://www.facebook.com/hoangoanh.nguyen.96742277/posts/272472646510445?hc_location=ufi

*

Bản dịch thứ 3 RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ
(Dịch từ DSM-V[1])

Người dịch: TS. Trần Văn Công, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG HN (2014)
Review: Cassandra Newsom, PhD, Vanderbilt Kennedy Center, Nashville, TN, USA

Tiêu chí chẩn đoán 299.00 (F84.0)

A. Suy yếu kéo dài trong giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều khung cảnh, với biểu hiện sau đây, hiện nay hoặc trước đây (ví dụ chỉ là minh họa, không thể bao quát hết mọi khí cạnh, xin xem thêm sách):

1. Suy yếu trao đổi mang tính cảm xúc-xã hội, từ mức độ nhẹ đến nặng, ví dụ từ cách tiếp cận bất bình thường và không thể duy trì hội thoại qua lại; đến việc giảm chia sẻ hứng thú, cảm xúc, hoặc mức ảnh hưởng; không có khả năng bắt đầu hoặc đáp ứng tương tác xã hội.

2. Suy yếu trong các hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng cho tương tác xã hội, từ mức độ nhẹ đến nặng, ví dụ từ sự kết hợp kém giao tiếp bằng lời và không lời, bất thường trong tương tác bằng ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể hoặc suy yếu trong sự hiểu biết và sử dụng các cử chỉ cho đến thiếu toàn bộ thể hiện khuôn mặt và giao tiếp phi ngôn ngữ.

3. Suy yếu trong việc phát triển (bắt đầu), duy trì, và sự hiểu biết các mối quan hệ, từ mức độ nhẹ đến nặng, ví dụ từ những khó khăn điều chỉnh hành vi cho phù hợp với khung cảnh xã hội khác nhau; những khó khăn trong việc cùng chơi tưởng tượng hoặc trong việc kết bạn; thiếu quan tâm đến các bạn đồng lứa.

Xác định mức độ nặng nhẹ hiện tại:

Mức độ nặng nhẹ được dựa trên giao tiếp xã hội bị suy yếu và hạn chế, các mẫu lặp lại của hành vi (xem Bảng 2).

B. Các mẫu hành vi, sở thích hoặc hoạt động lặp lại và bị giới hạn, với ít nhất hai trong số những biểu hiện sau đây, trong hiện tại hoặc trước đây (ví dụ chỉ là minh họa, không thể bao quát hết mọi khí cạnh, xin xem thêm sách):

1. Các hoạt động vận động cơ, sử dụng đồ vật, hoặc lời nói rập khuôn hoặc lặp lại (ví dụ, động cơ rập khuôn đơn giản, xếp đồ chơi thành hàng hoặc lật đồ vật, lời nói lặp lại, lạ lùng).

2. Nhấn mạnh sự giống nhau, tuân thủ cứng nhắc lịch trình hoạt động, hoặc các mẫu nghi thức hành vi bằng lời hoặc không lời (ví dụ, rất khó chịu với những thay đổi nhỏ, khó khăn với những sự chuyển tiếp, các mẫu suy nghĩ cứng nhắc, nghi thức chào hỏi, cần phải cùng một lịch trình hoặc ăn cùng thức ăn hàng ngày).

3. Những sở thích bị giới hạn cao và cắm chốt và có tính bất thường về cường độ hoặc mức tập trung (ví dụ, sự gắn bó mạnh mẽ hoặc bận tâm với các đồ vật một cách không bình thường, sự thích thú bị giới hạn quá mức hoặc quá dai dẳng).

4. Phản ứng quá mức hoặc dưới mức bình thường đến cảm giác đầu vào hoặc quan tâm đặc biệt trong khía cạnh cảm giác của môi trường (ví dụ, thờ ơ với đau đớn / nhiệt độ, phản ứng khó chịu với âm thanh hoặc bề mặt cụ thể, ngửi hoặc sờ mó đồ vật, đam mê với ánh sáng hoặc sự di chuyển di chuyển một cách quá mức).

C. Các triệu chứng phải xuất hiện trong các giai đoạn phát triển sớm (nhưng có thể không được biểu hiện hoàn toàn cho đến khi nhu cầu xã hội vượt quá khả năng, hoặc có thể được che giấu bởi các chiến lược đã học được trong cuộc sống sau này).

D. Các triệu chứng gây suy yếu đáng kể về mặt lâm sàng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp, hoặc các lĩnh vực quan trọng khác của chức năng hiện tại.

E. Những rối loạn này không thể được giải thích tốt hơn bằng khuyết tật trí tuệ (rối loạn phát triển trí tuệ) hoặc trễ về phát triển tổng thể. Khuyết tật trí tuệ và rối loạn phổ tự kỷ thường xuyên xuất hiện đồng thời; để có thể chẩn đoán đồng thời cả rối loạn phổ tự kỷ rối khuyết tật trí tuệ, giao tiếp xã hội nên thấp hơn mức độ mong đợi so với với trình độ phát triển chung.

Lưu ý: Những người với chẩn đoán DSM-IV của rối loạn tự kỷ, rối loạn
Asperger, hoặc rối loạn phát triển lan tỏa không biệt định cũng nên được chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ. Người nào đã có mức suy yếu rõ rệt trong giao tiếp xã hội, nhưng các triệu chứng khác không phù hợp với rối loạn phổ tự kỷ, nên được đánh giá với rối loạn giao tiếp xã hội (rối loạn giao tiếp thực dụng).

Chỉ rõ nếu:

Có hoặc không có kèm theo suy yếu trí tuệ
Có hoặc không có kèm theo suy yếu ngôn ngữ
LIên quan tới một bệnh y khoa hoặc di truyền đã được biết đến hoặc yếu tố môi trường
(Lưu ý ghi mã: Sử dụng mã bổ sung để xác định bệnh y khoa hoặc di truyền liên quan.)
Liên quan đến một rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần, hoặc rối loạn hành vi khác.
(Lưu ý ghi mã: Sử dụng mã bổ sung để xác định rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần, hoặc rối loạn hành vi liên quan.)
Với hội chứng tăng trương lực (tham khảo các tiêu chí về hội chứng tăng trương lực liên quan đến một rối loạn tâm thần khác, trang 119-120, để xem định nghĩa) (Lưu ý ghi mã: Sử dụng mã bổ sung 293.89 [F06.1] hội chứng tăng trương lực kết hợp với rối loạn phổ tự kỷ để chỉ ra sự hiện diện đồng thời của hội chứng tăng trương lực.)

Quy trình ghi chép

Đối với rối loạn phổ tự kỷ có liên quan đến một bệnh y khoa hoặc di truyền đã được biết đến hoặc yếu tố môi trường, hoặc rối loạn phát triển thần kinh, tâm thần, hoặc hành vi khác, cần ghi là rối loạn phổ tự kỷ có liên quan tới (tên của bệnh, rối loạn, hoặc yếu tố) (ví dụ, rối loạn phổ tự kỷ có liên quan đến hội chứng Rett). Mức độ nặng nhẹ nên được ghi chép lại như mức hỗ trợ cần thiết cho mỗi lĩnh vực trong hai lĩnh vực tâm bệnh trong Bảng 2 (ví dụ, “Đòi hỏi nhiều sự hỗ đối với suy yếu trong giao tiếp xã hội và đòi hỏi nhiều sự hỗ trợ cho các hành vi lặp lại, bị giới hạn”). Sự định rõ về “kèm theo suy yếu trí tuệ” hay “không kèm theo suy yếu trí tuệ” phải được ghi chép bên cạnh. Sự định rõ suy yếu ngôn ngữ nên được ghi lại sau đó. Nếu có suy yếu ngôn ngữ kèm theo, mức độ hiện tại của hoạt động bằng lời nói nên được ghi lại (ví dụ, “đi kèm với ngôn ngữ suy yếu – không có ngôn ngữ có thể hiểu được” hoặc “kèm theo suy yếu ngôn ngữ – nói theo cụm từ”). Nếu có cả trương lực cơ, nên ghi lại một cách tách biệt “trương lực cơ kết hợp với rối loạn phổ tự kỷ.”


Daytretukytainha.vn – Hỗ Trợ Phụ Huynh Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà

Nguồn: Danang Ho (phụ huynh)

Bình luận

bình luận

Giới thiệu 3 bản dịch DSM 5 (2013) – Tiếng Việt về Rối Loạn Phổ Tự Kỷ
Đánh giá bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*