Nghĩ gì về cái mác ADHD của các em tuổi vào nhà trẻ / mẫu giáo?



Daytretukytainha.vn – Hỗ Trợ Phụ Huynh Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà

Nguồn: Sách Facebook Tự Kỷ – Tác giả: Tom Hua (Danang Ho)


Nghĩ gì về cái mác ADHD của các em tuổi vào nhà trẻ / mẫu giáo?

Nhiều năm qua ở Mỹ, các chuyên gia đã thực hiện hàng trăm công trình nghiên cứu khoa học nhằm mục đích phát hiện sớm những triệu chứng ADHD của trẻ em; tuy nhiên, chẳng có phương pháp nào đáng được tin cậy khi áp dụng vào vấn đề thẩm định ADHD cho các em còn nhỏ tuổi. Chính vì vậy, trong cuốn ADHD (2016), Tiến Sĩ Rebecca Branstetter, một chuyên gia ngành tâm lý giáo dục nhi đồng ở vùng vịnh San Francisco, đã mạnh dạn cảnh cáo các đồng nghiệp, các bác sĩ, giáo viên rằng nhiều em ở tuổi vào nhà trẻ và mẫu giáo luôn tỏ ra tăng động, bốc đồng, giảm chú ý hệt như những biểu hiện của ADHD trong Cẩm Nang Thống Kê & Chẩn Bệnh Tâm Thần (DSM 5, 2013).  Hãy cẩn thận và đừng vội gán mác ADHD cho trẻ em.

Thẩm định ADHD cho các em tuổi chập chững và tuổi vào nhà trẻ

Nhiều chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm về ADHD thường từ chối thẩm định ADHD cho trẻ còn quá nhỏ tuổi, ngoại trừ đó là một vài trường hợp hết sức khác thường. Họ cho rằng hành vi tăng động, bồng bột của trẻ trong những môi trường khác nhau nhiều khi chỉ là những biểu hiện bình thường, thích hợp với độ tuổi và chẳng đáng quan tâm.

Một số chuyên gia khác sẽ đồng ý thẩm định ADHD, nếu bằng chứng cho thấy các em có thái độ dữ dằn, bồng bột quá mức, không thể kết bạn ở trường, và cần sự quan tâm của giáo viên từng giờ, từng ngày trong lớp học.

Thông thường, trước khi đi đến kết luận một đứa trẻ hội đủ điều kiện qui định của DSM 5 về ADHD, các chuyên gia sẽ phân tích hành vi của trẻ rất cặn kẽ để tránh phạm lỗi lầm, chẳng hạn họ phân biệt rõ ràng ADHD với sự bồn chồn, lo lắng của trẻ khi chia tay cha mẹ ở trường (separation anxiety), sự vụng về khi hoạt động chân tay (poor motor skills), rối loạn có khuynh hướng chống đối (oppositional disorder), rối loạn cảm giác (sensory disorders), rối loạn phát triển (developmental disorder), rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder), v.v…

Hiện tại, các chuyên viên tâm lý/giáo dục cho rằng người ta có thể dựa vào những biểu hiện về hành vi của trẻ trong thời thơ ấu để tiên đoán hay khẳng định khi lớn lên trẻ sẽ có chẩn đoán bị ADHD hay không, ví dụ:

  • Bằng chứng cho thấy bị đuổi học từ các lớp nhà trẻ vì hành vi hung tợn với bạn bè.
  • Luôn từ chối tham gia vào những sinh hoạt chung.
  • Không biết giữ khoảng cách giữa mình và mọi người.
  • Không biết tôn trọng đồ chơi, đồ vật của người khác.
  • Luôn bị bạn bè sợ hãi, lánh xa.

Có thể nào phát hiện con em ở tuổi chập chửng bị ADHD?

Khả năng chú ý của nhiều trẻ chập chững chỉ kéo dài trong một thời gian rất ngắn. Nhưng, các em có nghi ngờ bị chứng rối loạn giảm chú ý thường không thể tập trung vào những trò chơi, đồ chơi mình thích, cho dù chỉ vài phút đồng hồ, hoặc là các em rất dễ bị chi phối bởi những tiếng động nhỏ hay sự di động bình thường của người hoặc vật thể chung quanh, có sự giao tiếp rất giới hạn bằng mắt, và đòi hỏi sự tiếp cận một đối một của giáo viên ở nhà trường.

Mặc dù trẻ chập chững nào cũng có tính tăng động tự nhiên, nhưng các em có nghi ngờ bị ADHD thường biểu hiện sự tăng động cao độ (hyper hyperactivity), đứng ngồi không yên. Nhiều em không thích được nâng niu, bồng bế, khó mớm ăn hoặc tự ăn, luôn vụng về làm vỡ hoặc mất đồ chơi, ưa cắn bấu người khác, và khi lên cơn thì khóc ré hàng giờ, chẳng ai dỗ dành được.

Về sự bồng bột quá mức (overly impulsive), trẻ chập chững có nghi ngờ bị ADHD thường dễ vấp ngã bị trầy trụa, thích quăng ném đồ chơi, đồ vật, và rất khó ngủ về đêm. Theo Tiến Sĩ Branstetter, một cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy có 1 trong 4 (one in four) trẻ chập chững bị mất ngủ thường xuyên sẽ có chẩn đoán bị ADHD khi lên 5 tuổi rưỡi. Tỷ lệ 1 trong 4 nầy cao hơn kết quả của những nhóm khác là 1 trong 20.

Có thể nào phát hiện con em ở tuổi vào nhà trẻ bị ADHD?

Các em có nghi ngờ bị chứng tăng động giảm chú ý không thể ngồi yên lắng nghe cô giáo hoặc phụ huynh đọc chuyện, không thích tô mầu hay chơi những trò chơi do người khác hướng dẫn. Một đứa trẻ không bị ADHD có thể tập trung vào một hoạt động nào đó chừng 10, 15 phút, nhưng trẻ có nghi ngờ bị ADHD không thể duy trì sự tập trung dù chỉ trong vài phút, và cứ thay đổi liên tục những hoạt động của mình.

Các em ở tuổi vào nhà trẻ có nghi ngờ bị ADHD khi ra đường thì hay tuôn chạy, không biết nhìn trước sau. Ở nhà thì các em lúc nào cũng lăng xăng, hối hả, không thể ngồi yên trong bửa ăn với cha mẹ, rồi đôi khi bị mèo chó nhà mình cào cắn vì ôm vật chúng quá mạnh tay. Ở sân chơi thì các em hay bị ngã té vì cứ thích leo trèo. Vào lớp học thì các em nói nhiều, ưa gây chuyện, có khi bị kỷ luật vì tội đánh bạn, quậy phá, hoặc có những hành vi gây nguy hiểm cho bản thân và cho nhiều người khác.

Vì sao chẩn đoán ADHD quá sớm là điều nguy hại và bất lợi?

Điều nguy hại về sự chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý quá sớm cho các em ở tuổi vào nhà trẻ và mẫu giáo chính là sự nhầm lẫn của các giáo viên, phụ huynh, kể cả bác sĩ tâm thần, các chuyên gia tâm lý giáo dục về những hành vi bình thường nhưng bị ngộ nhận, rồi gán mác ADHD cho các em.

Cuốn Cẩm Nang Thống Kê & Chẩn Bệnh Tâm Thần (DSM 5, 2013) phất cờ đỏ (pointing to red flags) về những biểu hiện ADHD ở trẻ em như sau:

  • Không chịu ngồi yên trong lớp học ở nhà trường (out of seat during school).
  • Không nghe theo lời hướng dẫn của giáo viên (does not follow through on instructions).
  • Cựa quậy và bồn chồn khi ngồi vào ghế trong lớp học (fidgety and restless while sitting).
  • Trốn tránh những công việc đòi hỏi sự vận dụng và duy trì trí nhớ (avoids tasks with sustained mental efforts).

Tuy nhiên, những qui định trên đều là những biểu hiện của hầu hết các em bình thường và không bị ADHD trong những lớp nhà trẻ và mẫu giáo. Vì vậy, các chuyên gia ADHD ở Mỹ rất thận trọng khi đánh giá các em.

Ở Mỹ, lý do khiến nhiều bác sĩ, chuyên gia tâm lý/giáo dục từ chối thẩm định ADHD cho trẻ chập chững và cho các em lớp nhà trẻ, mẫu giáo là vì họ biết lứa tuổi nầy có sự thay đổi hoặc phát triển rất nhanh về thể xác và trí tuệ, khiến sự chẩn đoán sớm chắc chắn sẽ có kết quả sai lệch và bất lợi cho trẻ về sau. Nên nhớ, DSM 5 (2013) có qui định rất nghiêm ngặt về ADHD, chẳng hạn –

  • Những triệu chứng ADHD phải biểu hiện rõ nét và liên tục tối thiểu là 6 tháng (symptoms being present for at least 6 months).
  • Những triệu chứng ADHD phải biểu hiện ở nhiều bối cảnh khác nhau, chẳng hạn ở gia đình (at home), ở trường học (at school), và ở những nơi sinh hoạt xã hội khác (in other social settings).

Những qui định trên chính là lỗi tội của một số chuyên gia ADHD khi họ chỉ quan sát trẻ trong phòng khám, nhưng không tìm hiểu sự phản ứng của trẻ trong những môi trường sinh hoạt, học tập ở gia đình và trường học rồi vội vã gán mác ADHD cho các em.  Còn nữa, nếu trẻ không có vấn đề biểu hiện những hành vi tiêu cực ở gia đình, nhưng có sự phàn nàn của các giáo viên ở trường thì đó chính là nghi vấn mà phụ huynh phải tìm hiểu, bởi điều nầy có thể là những chỉ dấu cho thấy con em bị ức hiếp trong lớp học, hoặc lớp học là nơi có quá nhiều sự kích động, hoặc trình độ giảng dạy của giáo viên bị hạn chế, không có sự thích nghi hay bổ sung cần thiết cho nhu cầu học tập cá biệt của các em.

Làm thế nào trị liệu ADHD cho trẻ chập chững và các em tuổi vào nhà trẻ hay mẫu giáo?

Hiện tại, đa số các bác sĩ, chuyên gia thú nhận rằng rất khó theo dõi sự trị liệu cho các em có chẩn đoán ADHD quá sớm. Ở Mỹ, 99% các bác sĩ tâm thần sẽ từ chối kê toa thuốc cho các em tuổi còn nhỏ, bởi vì họ không biết những tác dụng phụ sẽ nguy hại như thế nào cho sức khỏe của các em.

Lợi và hại nếu chờ đợi (pros and cons of a ‘wait and see’ approach)

Trong cuốn ADHD (2016), Tiến Sĩ Branstetter khẳng định rằng trẻ em có chẩn đoán ADHD từ chặng 2 tuổi đến 4 tuổi có đến 50% cơ hội vượt qua những khiếm khuyết thuộc về chứng tăng động giảm chú ý và mất đi cái label ADHD bị gán ép khi còn nhỏ tuổi. Ngoài ra, sự chẩn đoán ADHD quá sớm sẽ khiến phụ huynh và các chuyên gia sẽ mất đi sự cảnh giác khi trẻ lớn lên và có những biểu hiện tâm thần khác với hội chứng ADHD.  Ngược lại, nếu chờ đợi khi con vào lúc 6 tuổi mới chẩn đoán thì lúc đó có trời mà biết con mình sẽ có chẩn đoán bị rối loạn tâm thần nào. Nghĩa là lúc ấy, bác sĩ nầy sẽ nói trẻ bị ADHD, chuyên gia khác sẽ nói trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ, hoặc cả hai.  Cuối cùng thì phụ huynh sẽ rơi vào tình trạng hoang mang, khủng hoảng, sẽ tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc cho những phương pháp trị liệu thiếu bằng chứng khoa học và chưa được sự phê chuẩn của các chuyên gia, bác sĩ nổi tiếng trong ngành.

Công trình nghiên cứu PATS về trẻ còn nhỏ tuổi có chẩn đoán bị ADHD

Trở ngại trong vấn đề chẩn đoán quá sớm chính là các bác sĩ, chuyên gia phải nghĩ cách điều trị ADHD cho các em.  Năm 2006, một công trình nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm có tên gọi là PATS, bao gồm 300 em có chẩn đoán ADHD thuộc dạng nặng ngay từ thời theo học lớp nhà trẻ, do nhóm chuyên gia NIMH (National Institute of Mental Health) thực hiện với kết quả được công bố như sau:

  • Hơn 1/3 trẻ em trong công trình nghiên cứu PATS có sự tiến bộ rõ rệt nhờ vào sự huấn luyện phụ huynh biết cách ứng dụng liệu pháp bổ xung hành vi (Behavior Modification Therapy) để dạy con ở gia đình, thay vì cho con dùng thuốc methylphenidate (Ritalin).
  • 11% trẻ em trong công trình nghiên cứu PATS có nhiều phản ứng phụ khi dùng Ritalin, chẳng hạn mất ăn, buồn ngủ, biểu hiện trầm cảm, cáu tiết, lên cơn tức giận, bắt đầu có những hành vi, lời nói lặp đi, lặp lại, và buộc phải ngưng dùng thuốc Ritalin.

Sự tranh luận giữa các bác sĩ và chuyên gia về methylphenidate (Ritalin)

Những con số thống kê từ PATS cho thấy các em nhỏ sử dụng methylphenidate (Ritalin) sẽ bị chậm phát triển về chiều cao và sức nặng so với những trẻ cùng độ tuổi khác.  Sau khi kết quả của Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe Tâm Thần (NIMH) được công bố, giới bác sĩ tâm thần và chuyên gia ADHD bắt đầu phân chia thành 2 nhóm rõ rệt. Nhóm thứ nhất cho rằng các phương pháp chẩn đoán ADHD đối với trẻ còn nhỏ tuổi có nhiều khuyết điểm, đặc biệt là tác dụng phụ của Ritalin cần có nhiều thời gian nghiên cứu tỉ mĩ hơn trước khi họ đồng ý kê toa cho trẻ sử dụng. Nhóm thứ hai lý luận rằng một số trẻ ADHD thuộc dạng nặng trong công trình nghiên cứu PATS phải cần đến thuốc và họ ủng hộ cách trị liệu ADHD bằng thuốc để giảm thiểu những hành vi tiêu cực của các em.

Sự tranh luận về tác động của TV đối với ADHD

Viện Hàn Lâm Khoa Nhi ở Mỹ khuyến cáo rằng trẻ dưới 2 tuổi không nên xem TV, DVD, và phải tránh các trò chơi điện tử.  Trẻ từ 2 tuổi trở lên có thể xem những chương trình giáo dục lành mạnh trên TV theo thời hạn 2 tiếng mỗi ngày. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia ADHD không đồng ý rằng TV là hiểm họa gây nên ADHD cho trẻ nhỏ, và họ không quá quan tâm nếu trẻ em thích xem những chương trình hoạt họa bổ ích như Winnie the Pooh hoặc Thomas the Tank Engine. Trẻ em bị ADHD hoặc không bị ADHD đều có thể học được những điều hay từ những phim hoạt hình nầy. Ngoài ra, những chuyên gia ADHD cho rằng trẻ không xem TV là tự cô lập với dòng chính, sẽ cảm thấy lạc hậu vì không thể chia sẻ với bạn bè cùng lứa tuổi những điều mới lạ và thú vị qua phim ảnh.  Cần lưu ý rằng những giờ sinh hoạt trên màn ảnh (screen time) không nên xử dụng làm phương tiện để giữ trẻ im lặng, chờ đợi, giúp trẻ ăn hay dỗ dành mỗi khi trẻ lên cơn, nằm vạ.

——

Daytretukytainha.vn – Hỗ Trợ Phụ Huynh Dạy Trẻ Tự Kỷ Tại Nhà

Nguồn: Sách Facebook Tự Kỷ – Tác giả: Tom Hua (Danang Ho)

                                                                                

Bình luận

bình luận

Nghĩ gì về cái mác ADHD của các em tuổi vào nhà trẻ / mẫu giáo?
Đánh giá bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*